Home Chuyên đề tháng Hiểu về công nghiệp văn hóa #3: Vốn và tiềm năng phát triển

Hiểu về công nghiệp văn hóa #3: Vốn và tiềm năng phát triển

Trong mọi xu hướng đầu tư, dù vi mô hay vĩ mô, chúng ta đều cần tư duy về vốn trước khi bắt đầu, nhưng nếu chúng ta tư duy về vốn chỉ là nguồn tiền và dòng tiền, thì chiến lược đầu tư chắc chắn sẽ thất bại. Tiền chỉ là một phần nhỏ trong các nguồn lực tạo thành cơ cấu vốn ban đầu, mà chủ yếu mang tính đại diện thay vì mang tính quyết định. Nói một cách khác, tiền có thể giúp một dự án bề thế hơn và có độ ảnh hưởng lớn hơn, nhanh hơn chứ không phải là yếu tố ảnh hưởng tiên quyết đến việc bắt đầu. Thậm chí, nếu trong cơ cấu vốn, các nguồn lực khác càng ít thì càng tiêu tốn nhiều tiền hơn, kèm với đó là thu lợi về ít hơn. Cơ cấu vốn trong công nghiệp văn hóa cũng không ngoại lệ.

Vấn đề là trong nhiều năm qua, khi nói đến phát triển công nghiệp văn hóa, chúng ta thường nói đến bài toán thiếu vốn theo nghĩa tài chính: thiếu ngân sách, thiếu đầu tư tư nhân, thiếu các quỹ hỗ trợ, thiếu cơ chế huy động dòng tiền dài hạn. Điều đó không sai, nhưng nó khiến cho toàn bộ tư duy phát triển dễ bị kéo lệch sang một hướng rất bế tắc: tưởng rằng chỉ cần có tiền thì sẽ có sản phẩm văn hóa, có thị trường văn hóa, và cuối cùng sẽ có một nền công nghiệp văn hóa đủ sức cạnh tranh. Nhưng trên thực tế, tiền chỉ có thể đổ vào những cấu trúc đã tồn tại. Nếu bản thân hệ sinh thái không có sẵn những nền tảng tối thiểu để hấp thụ nguồn lực tài chính, thì càng bơm vốn càng dễ tạo ra những bong bóng hình ảnh, những chiến dịch truyền thông ngắn hạn hoặc những mô hình lệ thuộc vào tài trợ thay vì tự vận động bằng giá trị nội tại. Nó cũng khiến các sản phẩm được tạo ra phục vụ guồng quay kiếm tiền nhanh, một thực tế nguy hiểm mà tôi đã đề cập đến trong Bài 1 Bài 2

Điều này đặc biệt rõ trong lĩnh vực văn hóa, bởi khác với nhiều ngành công nghiệp khác, sản phẩm văn hóa không được tạo ra chỉ bằng quy trình sản xuất mà còn được hình thành từ chiều sâu xã hội, chiều sâu lịch sử và chiều sâu con người. Một bộ phim không chỉ cần tiền để quay, mà cần một tầng lớp biên kịch đủ trải nghiệm để viết; một ngành xuất bản không chỉ cần vốn lưu động, mà cần một cộng đồng tác giả, dịch giả, biên tập viên chất lượng và nhiều độc giả có khả năng đọc sâu; một ngành âm nhạc không chỉ cần sân khấu lớn hay thiết bị hiện đại, mà cần môi trường nuôi dưỡng gu thẩm mỹ qua nhiều thế hệ. Nếu những điều đó không tồn tại, thì tiền càng nhiều đôi khi càng chỉ làm cho phần “vỏ công nghiệp” trở nên hoành tráng hơn, trong khi phần “lõi văn hóa” vẫn rỗng.

Có lẽ vì vậy mà khi quan sát những nền công nghiệp văn hóa trưởng thành, chúng ta sẽ thấy thứ họ tích lũy lâu nhất chưa bao giờ chỉ là tư bản tài chính. Thứ họ tích lũy là vốn xã hội, vốn tri thức, vốn biểu tượng, vốn ký ức và vốn con người. Những loại vốn này không thể hình thành bằng các gói đầu tư ngắn hạn, mà được xây dựng thông qua giáo dục, thiết chế, truyền thống, cộng đồng và cả những thói quen văn hóa kéo dài hàng chục năm. Và đây mới là điểm khiến công nghiệp văn hóa trở thành một lĩnh vực đặc biệt: nó không thể phát triển bằng tư duy tăng trưởng đơn thuần, bởi bản thân thứ nó khai thác chính là đời sống tinh thần của xã hội.

 

Vốn tri thức – yếu tố tiên quyết

Trong toàn bộ cơ cấu vốn của công nghiệp văn hóa, vốn quan trọng nhất thực ra không phải vốn tài chính mà là vốn tri thức. Bởi công nghiệp văn hóa, xét đến cùng, là ngành công nghiệp khai thác năng lực tư duy, năng lực biểu đạt và năng lực chuyển hóa trải nghiệm con người thành giá trị xã hội. Nếu thiếu tri thức, mọi nguồn lực còn lại gần như chỉ có thể vận hành ở mức gia công hoặc bắt chước. Nhưng vốn tri thức ở đây không nên được hiểu đơn giản là trình độ chuyên môn của một vài cá nhân xuất sắc. Một nền công nghiệp văn hóa không thể tồn tại bằng thiên tài đơn lẻ. Vốn tri thức thực chất là tổng hòa của nhiều tầng năng lực khác nhau: năng lực sáng tạo, năng lực nghiên cứu, năng lực tổ chức sản xuất, năng lực quản trị, năng lực lưu trữ dữ liệu, năng lực phản biện, năng lực đào tạo… và quan trọng hơn cả là năng lực truyền lại tri thức qua nhiều thế hệ nhân sự khác nhau. Một ngành công nghiệp chỉ thực sự trưởng thành khi tri thức không còn phụ thuộc vào ký ức cá nhân mà bắt đầu trở thành tài sản chung của hệ sinh thái.

Điều này lý giải vì sao nhiều lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam thường xuyên rơi vào tình trạng “làm lại từ đầu”. Một ê-kíp thành công không đồng nghĩa với việc ngành đó trưởng thành hơn. Một sản phẩm gây tiếng vang cũng không đồng nghĩa với việc tri thức sản xuất đã được tích lũy. Nếu sau mỗi dự án, kinh nghiệm tiếp tục nằm rời rạc trong tay một vài cá nhân rồi phân tán đi nơi khác, thì hệ sinh thái vẫn không tạo ra được vốn tri thức đúng nghĩa. Khi đó, mỗi thế hệ mới lại phải tự thử sai, tự trả học phí và tự lặp lại những thất bại cũ bằng một chi phí ngày càng đắt hơn. Đây là thực trạng của chính dòng phim cổ trang lịch sử ở Việt Nam. Phim cổ trang lịch sử dù rất hấp dẫn khán giả nhưng cũng luôn làm khán giả thất vọng khi xem. Chi phí đầu tư để dàn dựng cao, không phải chỉ là nguồn lực tài chính mà còn đòi hỏi bề dày của vốn văn hóa, khiến một bộ phim cổ trang khó thu hồi vốn hơn so với phim hiện đại. Hơn nữa, phim cổ trang lịch sử của nước ta luôn bị đặt trên bàn cân của Trung Quốc, Hàn Quốc…và mới đây còn là Ấn Độ, Thái Lan… khiến áp lực cạnh tranh lớn hơn. Nhưng toàn bộ tri thức để có thể hoàn thành phim cổ trang lịch sử, kể cả là tri thức về sự thất bại không hề được tận dụng để hạn chế các sai lầm, thay vì đó vẫn liên tục thử sai. Bên cạnh đó, lại không hề tiếp thu các tri thức sẵn có trong sân khấu truyền thống, nghiên cứu văn hóa, văn học cổ…để đạt được các hiệu ứng về chất cổ trang lịch sử trong phim. Các dự án liên tục thất bại dù ở quy mô lớn hoặc nhỏ. Phim có thể nói là thành công duy nhất (ở mặt nghệ thuật, nhưng vẫn không thành công về doanh thu), chính là “Long thành cầm giả ca” của đạo diễn Đào Bá Sơn. Tuy vậy, phim vẫn không được công nhận một cách xứng tầm trong giới phê bình bởi vẫn không tránh được những hạn chế của vốn tri thức non nớt một cách tất yếu trong dòng phim cổ trang lịch sử. 

Xem bộ phim “Long Thành cầm giả ca”:

Trong công nghiệp văn hóa, thiếu vốn tri thức luôn dẫn đến một nghịch lý rất lớn: càng thiếu tri thức thì càng phải đốt nhiều tiền hơn để tạo ra sản phẩm. Bởi khi không có nền tảng chuyên môn đủ dày, hệ thống sẽ buộc phải dùng tiền để bù vào mọi khoảng trống khác: bù cho sai sót trong vận hành, bù cho chiến lược ngắn hạn, bù cho chất lượng sáng tạo thiếu ổn định, bù cho năng lực quản trị yếu và cuối cùng là bù cho việc không hiểu rõ khán giả của mình. Điều đó khiến chi phí sản xuất ngày càng cao nhưng biên độ lợi nhuận lại ngày càng thấp, bởi giá trị cốt lõi của sản phẩm không đủ mạnh để tạo ra sức sống dài hạn. Ngược lại, khi vốn tri thức đủ lớn, một hệ sinh thái văn hóa có thể tạo ra giá trị vượt xa lượng tài chính ban đầu mà nó sở hữu. Bởi tri thức giúp tối ưu hóa quá trình sản xuất, giúp hạn chế chi phí thử sai, giúp hình thành ngôn ngữ sáng tạo riêng và quan trọng nhất là giúp sản phẩm có khả năng tái sinh giá trị qua thời gian. Đây là lý do nhiều nền công nghiệp văn hóa mạnh trên thế giới có thể bắt đầu từ điều kiện vật chất không quá vượt trội, nhưng lại duy trì được ảnh hưởng hàng chục năm nhờ khả năng tích lũy và tái sản xuất tri thức liên tục.

Một ví dụ rất rõ về vốn tri thức trong công nghiệp văn hóa là trường hợp của Thái Lan, đặc biệt trong lĩnh vực quảng cáo, điện ảnh và gần đây là ngành nội dung giải trí đại chúng. Nếu chỉ nhìn vào quy mô kinh tế, Thái Lan không phải quốc gia có nguồn vốn tài chính vượt trội trong khu vực châu Á, nhưng điều họ tích lũy được trong nhiều thập niên lại là một hệ thống tri thức đủ dày để liên tục chuyển hóa thành sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc tế. Trong ngành quảng cáo, Thái Lan từng được xem như một “trường phái sáng tạo” riêng của châu Á. Điều đáng chú ý là thành công này không đến từ việc họ sở hữu ngân sách quảng cáo lớn nhất khu vực, mà đến từ việc họ xây dựng được năng lực kể chuyện rất đặc trưng: gần gũi, giàu cảm xúc, có tính nhân văn nhưng vẫn mang khả năng thương mại cao. Quan trọng hơn, tri thức đó không nằm ở một vài cá nhân nổi tiếng mà được tích lũy thành văn hóa nghề nghiệp. Qua nhiều thế hệ agency, đạo diễn, biên kịch và nhà sản xuất… đã tạo ra được một môi trường mà người trẻ có thể học từ những dự án cũ, từ quy trình cũ và từ chính tư duy sáng tạo đã được định hình trước đó. Điều này khiến năng lực sản xuất nội dung của họ không bị đứt đoạn sau từng thế hệ. Điện ảnh Thái Lan cũng tương tự. Chúng ta thường nhìn thấy thành công của một vài bộ phim kinh dị, phim tình cảm hoặc TV series đồng tính nam như những hiện tượng thị trường, nhưng phía sau đó là cả một hệ sinh thái tri thức vận hành nhiều năm. Họ có đội ngũ biên kịch hiểu cấu trúc đại chúng, có đạo diễn được đào tạo qua hệ thống sản xuất thực tế, có đội ngũ kỹ thuật đủ khả năng duy trì chất lượng ổn định với ngân sách không quá lớn, và đặc biệt là có kinh nghiệm trong việc chuyển hóa văn hóa bản địa thành sản phẩm dễ tiếp cận quốc tế. Đây là điều rất quan trọng, bởi công nghiệp văn hóa không chỉ cần sản phẩm hay mà còn cần khả năng “dịch” bản sắc địa phương thành ngôn ngữ toàn cầu.

Chính vì có vốn tri thức đủ mạnh nên chi phí thử sai của họ thấp hơn rất nhiều. Một ê-kíp có kinh nghiệm tích lũy lâu năm sẽ biết cách kiểm soát ngân sách, kiểm soát quy trình và dự đoán phản ứng thị trường tốt hơn. Điều này giúp sản phẩm của họ dù không phải lúc nào cũng có kinh phí khổng lồ nhưng vẫn đạt hiệu quả thương mại tương đối cao. Nói cách khác, tri thức giúp họ tạo ra biên lợi nhuận tốt hơn trên cùng một đơn vị vốn tài chính. Ngược lại, ở những hệ sinh thái thiếu vốn tri thức, mỗi sản phẩm thường mang tính “đánh cược”. Thành công phụ thuộc nhiều vào may mắn hoặc hiệu ứng truyền thông tức thời hơn là năng lực sản xuất ổn định. Khi đó, tiền phải được dùng để bù cho sự thiếu ổn định ấy: chi nhiều hơn cho marketing, cho ngôi sao, cho công nghệ hoặc cho các chiến dịch tạo chú ý ngắn hạn. Nhưng càng vận hành theo kiểu đó, hệ sinh thái càng khó tích lũy được tri thức dài hạn, bởi toàn bộ nguồn lực lại tiếp tục bị hút vào việc giải quyết bài toán trước mắt thay vì xây dựng nền tảng cho thế hệ tiếp theo.

Một trường hợp khác rất đáng chú ý là Nhật Bản. Nếu Thái Lan cho thấy khả năng chuyển hóa vốn tri thức thành năng lực sản xuất có tính thương mại cao, thì Nhật Bản lại cho thấy khía cạnh sâu hơn, đó là sự trưởng thành của công nghiệp văn hóa phụ thuộc rất lớn vào khả năng mở rộng và lưu thông tri thức trong toàn xã hội.  Một trong những đặc điểm quan trọng của hệ sinh thái sáng tạo Nhật Bản là họ không xem tri thức nghề nghiệp như một tài sản phải giữ kín cho một nhóm nhỏ tinh hoa. Ngược lại, với hầu hết các lĩnh vực mà họ muốn thúc đẩy phát triển, tri thức gần như luôn được hệ thống hóa và phổ biến rất rộng rãi. Từ manga, hoạt hình, game, thiết kế, thủ công mỹ nghệ cho đến điện ảnh hay âm nhạc, thị trường Nhật Bản tồn tại một lượng khổng lồ sách hướng dẫn nghề nghiệp, sách phân tích thị trường, sách kỹ thuật sản xuất và tài liệu chia sẻ kinh nghiệm thực tế. Không chỉ dừng ở mức “dạy kỹ năng”, các tài liệu này còn hướng dẫn cách tạo ra sản phẩm, cách vận hành dự án, cách xây dựng phong cách cá nhân và thậm chí là cách thâm nhập thị trường. Điều này tạo ra một khác biệt rất lớn trong tốc độ hình thành nhân lực. Khi tri thức được chia sẻ rộng rãi, thời gian học hỏi của người mới sẽ được rút ngắn đi đáng kể. Một người trẻ không cần mất hàng chục năm để tiếp cận các kinh nghiệm nền tảng vốn đã được hệ thống hóa trước đó. Họ có thể bước vào ngành nhanh hơn, thử nghiệm nhanh hơn và quan trọng nhất là có khả năng tiếp tục phát triển trên phần tri thức mà thế hệ trước đã tích lũy. Đây chính là cách vốn tri thức được tái sản xuất liên tục thay vì bị đứt đoạn sau từng thế hệ.

Quan trọng hơn, Nhật Bản không chỉ chia sẻ tri thức qua sách vở hay hệ thống đào tạo chính quy. Một phần rất lớn tri thức được lưu chuyển ngay trong môi trường sản xuất thực tế. Các studio sáng tạo, các nhóm làm việc chung và mô hình cộng tác dự án trở thành nơi mà người trẻ vừa lao động vừa học nghề trực tiếp. Trong ngành anime hay manga, việc một họa sĩ trẻ bắt đầu từ vị trí trợ lý gần như không chỉ là lao động kỹ thuật mà còn là quá trình hấp thụ toàn bộ tư duy nghề nghiệp thông qua từng dự án cụ thể. Tri thức vì vậy không tồn tại như lý thuyết tách rời mà được gắn chặt với quá trình sản xuất thực tế. Đây là điểm rất đáng suy nghĩ đối với nhiều nền công nghiệp văn hóa đang phát triển. Bởi ở không ít nơi, tri thức nghề nghiệp thường bị giữ kín như một lợi thế cá nhân hoặc bị giới hạn trong các thiết chế đào tạo chính quy vốn có khả năng tiếp cận rất hẹp. Điều đó khiến cho quá trình truyền nghề diễn ra chậm, nguồn nhân lực phát triển thiếu liên tục và toàn bộ hệ sinh thái luôn ở trong trạng thái khan hiếm người có kinh nghiệm. Khi vốn tri thức không thể lưu thông, hệ thống sẽ buộc phải dùng tiền để bù cho sự thiếu hụt ấy, nhưng càng làm như vậy thì chi phí phát triển càng cao mà năng lực nội tại lại càng khó tích lũy lâu dài.

> Đọc thêm:

Nhật Bản có lẽ cũng học tinh thần này từ chính Mỹ, nơi có thể xem như một trong những trung tâm lớn nhất của công nghiệp văn hóa hiện đại. Nếu nhìn vào lịch sử phát triển của điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, truyền hình, quảng cáo hay gần đây là công nghiệp nội dung số, có thể thấy điểm cốt lõi trong sức mạnh văn hóa của Mỹ không chỉ nằm ở quy mô thị trường hay lượng vốn tài chính khổng lồ, mà nằm ở khả năng làm cho tri thức lưu thông với tốc độ cực cao trong toàn xã hội. Đặc biệt từ sau Thế chiến II, Mỹ gần như xây dựng toàn bộ chiến lược phát triển của mình dựa trên việc thu hút chất xám toàn cầu. Họ mở cửa tiếp nhận di dân, tiếp nhận giới nghiên cứu, nghệ sĩ, kỹ sư, nhà khoa học và những người có năng lực sáng tạo từ nhiều quốc gia khác nhau, sau đó tạo ra môi trường để những nguồn lực ấy có thể tiếp tục phát triển và cống hiến. Điều quan trọng ở đây là Mỹ không chỉ “nhập khẩu nhân tài”, mà còn xây dựng được hệ thống giúp tri thức của những cá nhân đó tiếp tục lan rộng ra toàn bộ xã hội thông qua trường đại học, viện nghiên cứu, studio, tập đoàn truyền thông và thị trường sáng tạo quy mô lớn.

Hollywood là một ví dụ rất rõ cho cơ chế này. Sức mạnh của Hollywood chưa bao giờ chỉ đến từ tiền đầu tư cho phim ảnh. Điều khiến nó trở thành trung tâm điện ảnh toàn cầu nằm ở việc đây là nơi tập trung và tái tổ chức tri thức điện ảnh từ khắp thế giới. Rất nhiều đạo diễn, biên kịch, nhà quay phim, nhạc sĩ hay chuyên gia kỹ xảo nhập cư vào Mỹ trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, mang theo kinh nghiệm văn hóa từ quê hương của họ. Nhưng thay vì tồn tại rời rạc, những tri thức đó được hòa trộn trong một hệ sinh thái có khả năng công nghiệp hóa cực mạnh. Qua thời gian, Hollywood không chỉ tạo ra phim mà còn tạo ra chuẩn mực sản xuất, chuẩn mực kể chuyện và chuẩn mực vận hành cho toàn bộ ngành điện ảnh thế giới. Điều tương tự cũng xảy ra với ngành công nghệ giải trí, âm nhạc và truyền thông Mỹ. Họ xây dựng một môi trường mà tri thức không bị đóng kín trong các thiết chế tinh hoa, mà liên tục được tái sản xuất thông qua sách vở, workshop, khóa học, cộng đồng nghề nghiệp, mô hình mentor, các studio cộng tác và thị trường lao động cực kỳ linh hoạt. Một người trẻ bước vào ngành có thể tiếp cận lượng kiến thức khổng lồ chỉ trong thời gian ngắn, sau đó tiếp tục học hỏi trực tiếp từ chính các dự án thực tế. Chính khả năng lưu thông tri thức liên tục này giúp Mỹ duy trì được năng lực đổi mới trong thời gian rất dài.

Điều đáng chú ý là khi tri thức được lưu thông đủ mạnh, công nghiệp văn hóa sẽ bắt đầu hình thành một hiệu ứng tích lũy rất đặc biệt. Mỗi thế hệ mới không cần bắt đầu lại từ đầu, mà có thể phát triển tiếp trên nền tảng của thế hệ trước. Nhờ vậy, chi phí thử sai của toàn hệ sinh thái giảm xuống theo thời gian, trong khi tốc độ sáng tạo và khả năng mở rộng thị trường lại tăng lên. Đây cũng là lý do các quốc gia có vốn tri thức mạnh thường không chỉ tạo ra sản phẩm văn hóa thành công, mà còn tạo ra được cả những “cỗ máy sản xuất văn hóa” có khả năng vận hành bền vững qua nhiều thập niên.

Công nghiệp văn hóa tỉ lệ thuận với vốn văn hóa

Một nguồn lực quan trọng khác trong cơ cấu vốn của công nghiệp văn hóa là vốn văn hóa. Nếu vốn tri thức là khả năng tích lũy, truyền tải và chuyển hóa hiểu biết thành năng lực sản xuất, thì vốn văn hóa chính là phần chiều sâu tinh thần mà một xã hội tích lũy được qua lịch sử tồn tại của mình. Nó bao gồm ký ức tập thể, hệ giá trị, thẩm mỹ, tập quán, biểu tượng, lối sống, trải nghiệm lịch sử và toàn bộ những lớp nghĩa mà cộng đồng đó tạo ra trong quá trình phát triển lâu dài. Nói cách khác, vốn văn hóa là “nguyên liệu vô hình” để một nền công nghiệp văn hóa có thể tạo ra bản sắc riêng thay vì chỉ sản xuất hàng loạt những sản phẩm có thể thay thế lẫn nhau. Điều quan trọng là vốn văn hóa không tồn tại như một kho dữ liệu chết, mà nó sống bên trong con người. Một quốc gia có bề dày vốn văn hóa lớn sẽ khiến nghệ sĩ, trí thức và những người sáng tạo gần như tự động hấp thụ chiều sâu ấy trong quá trình trưởng thành. Khi họ sáng tác, nghiên cứu hay biểu đạt, những lớp văn hóa đó sẽ tự nhiên đi vào tác phẩm mà không cần cố tình “gắn bản sắc” một cách cơ học. 

Có thể thấy rất rõ điều này ở Nhật Bản. Ngay cả trong những sản phẩm đại chúng nhất như anime, manga hay game, người ta vẫn luôn nhìn thấy những lớp tư duy rất Nhật: cảm thức về thiên nhiên, tinh thần vô thường, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, ký ức hậu chiến, ý thức về lao động và tính kỷ luật trong đời sống thường nhật. Nhiều tác phẩm không trực tiếp nói về truyền thống, nhưng bản thân cách kể chuyện, nhịp cảm xúc và cấu trúc nhân vật đã phản ánh chiều sâu văn hóa tích lũy hàng trăm năm của xã hội Nhật Bản. Chính điều đó khiến sản phẩm của họ có bản sắc đủ rõ để thế giới nhận ra. Pháp cũng là một ví dụ điển hình khác. Bề dày lịch sử triết học, mỹ thuật, điện ảnh và văn chương khiến ngay cả những tác phẩm đương đại của họ vẫn mang theo cảm thức đặc trưng về tự do cá nhân, về đời sống thị dân, về tính phản biện và sự lãng mạn trong tư duy nghệ thuật. Điều này không chỉ xuất hiện trong các tác phẩm nghệ thuật “hàn lâm”, mà còn hiện diện trong thời trang, kiến trúc, thiết kế hay cả văn hóa quán cà phê. Khi vốn văn hóa đủ dày, gần như mọi hình thức biểu đạt đều trở thành một phần của sức mạnh mềm quốc gia.

Quan trọng hơn, vốn văn hóa không chỉ giúp tạo ra tác phẩm mà còn tạo ra sức hút tự thân cho chính quốc gia đó. Một đất nước có chiều sâu văn hóa thường khiến người khác muốn khám phá, muốn trải nghiệm và muốn tham gia vào đời sống tinh thần của nó. Điều này cũng lý giải vì sao những quốc gia có bề dày di sản văn hóa thường sở hữu một sức hút tự thân rất mạnh. Người ta tìm đến Trung Quốc, Pháp, Ý hay Ai Cập không chỉ vì cảnh quan hay dịch vụ du lịch, mà vì những quốc gia đó mang lại cảm giác về một nền văn minh đã tích lũy chiều sâu qua nhiều thế kỷ. Các di tích, kiến trúc, bảo tàng, lễ nghi, nghệ thuật và cả không khí đời sống thường nhật đều khiến du khách có cảm giác họ đang tiếp xúc với một lớp ký ức lịch sử lớn hơn chính bản thân mình. Đây chính là biểu hiện rất rõ của vốn văn hóa: sức hấp dẫn không đến từ quảng cáo đơn thuần mà đến từ chiều sâu tích lũy lâu dài của xã hội.

Nhưng vốn văn hóa cũng giống như mọi loại vốn khác: nếu chỉ khai thác mà không tiếp tục bồi đắp, nó sẽ dần bị bào mòn. Một quốc gia không thể sống mãi bằng hào quang di sản trong quá khứ nếu hiện tại không còn tạo ra thêm giá trị văn hóa mới. Khi điều đó xảy ra, trải nghiệm văn hóa sẽ dần biến thành một dạng tiêu dùng di tích đơn thuần. Du khách đến để “xem cái đã từng tồn tại” thay vì cảm nhận một nền văn hóa vẫn còn đang sống. Trường hợp của Ai Cập là một ví dụ khá rõ. Ai Cập sở hữu một trong những kho di sản cổ đại lớn nhất nhân loại, với kim tự tháp, tượng Nhân sư và toàn bộ nền văn minh sông Nile gần như đã trở thành biểu tượng toàn cầu. Nhưng trong suốt một thời gian dài, sức hút văn hóa của Ai Cập lại phụ thuộc gần như hoàn toàn vào quá khứ cổ đại ấy. Nghĩa là khách du lịch đến để nhìn thấy tàn tích của một nền văn minh huy hoàng hơn là để tiếp xúc với một đời sống văn hóa đương đại có khả năng tiếp tục mở rộng trí tưởng tượng về đất nước này. Khi vốn văn hóa không được làm dày thêm bằng các biểu đạt mới của con người hiện tại, toàn bộ hệ sinh thái dễ rơi vào trạng thái khai thác ký ức quá khứ như một tài nguyên hữu hạn. Và khi trải nghiệm bắt đầu mang cảm giác cũ kỹ, lặp lại hoặc bị thương mại hóa quá mức, sức hút tự nhiên cũng sẽ suy giảm.Ngược lại, Trung Quốc và Pháp cho thấy một mô hình khác: họ không chỉ bảo tồn di sản mà còn liên tục tái tạo và mở rộng vốn văn hóa bằng chính đời sống đương đại.

Ở Trung Quốc, bên cạnh các di sản lịch sử đồ sộ như Tử Cấm Thành, Vạn Lý Trường Thành hay hệ thống thư pháp và kinh kịch, nhà nước và xã hội vẫn liên tục tạo ra các lễ hội văn hóa, không gian nghệ thuật, điện ảnh, thực cảnh, thời trang, trò chơi điện tử và các hình thức biểu đạt mới để tiếp tục kể lại câu chuyện văn hóa Trung Hoa trong bối cảnh hiện đại. Điều quan trọng là các giá trị truyền thống không đứng yên như hiện vật trong bảo tàng, mà được con người đương thời tiếp tục sống cùng, diễn giải lại và phô diễn bằng ngôn ngữ của thời đại mình.

Pháp cũng tương tự. Điều khiến Paris duy trì được sức hút toàn cầu không chỉ là các công trình lịch sử như Louvre hay Notre-Dame, mà còn vì thành phố này liên tục sản sinh thêm các hoạt động nghệ thuật, triển lãm, tuần lễ thời trang, điện ảnh, âm nhạc, hội chợ văn hóa, và các không gian tri thức mới. Người ta đến Pháp không chỉ để nhìn quá khứ mà còn để cảm nhận rằng nền văn hóa ấy vẫn đang tiếp tục vận động. Chính sự hiện diện sống động của con người đương thời mới làm cho di sản tiếp tục có ý nghĩa. Những tập đoàn truyền thông của Pháp không chỉ tạo ra những sản phẩm văn hóa mới, mà còn tổ chức tối ưu các di sản để tạo ra sức hút du lịch thông qua các hình thức sự kiện hội chợ, triển lãm… Mặc dù không đầu tư vào các nền tảng giải trí online, nhưng Pháp vẫn là một quốc gia có công nghiệp văn hóa phát triển, sở dĩ bởi họ đã có một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trực tiếp sống động và hiện diện. 

Nhưng điều đó không có nghĩa rằng một quốc gia không sở hữu di sản đồ sộ hay lịch sử hàng nghìn năm thì không thể phát triển công nghiệp văn hóa. Nếu nhìn như vậy, chúng ta sẽ dễ rơi vào một ngộ nhận rằng vốn văn hóa là thứ hoàn toàn phụ thuộc vào quá khứ. Trên thực tế, bề dày văn hóa chưa bao giờ tự nhiên xuất hiện. Nó luôn là kết quả của một quá trình tích lũy liên tục thông qua sáng tạo của nhiều thế hệ con người khác nhau. Điều quan trọng nằm ở chỗ: vốn văn hóa không được hình thành bằng việc lặp lại quá khứ một cách nguyên xi, mà bằng khả năng tạo ra những biểu đạt mới trên chính nền tảng di sản sẵn có. Nếu một xã hội chỉ dừng lại ở việc sao chép lại các hình thức cũ, thì di sản sẽ dần trở thành vật trưng bày hơn là nguồn sống cho sáng tạo. Chỉ khi nào thế hệ đương thời tiếp tục diễn giải, biến đổi và tái tạo những giá trị cũ bằng ngôn ngữ mới của thời đại mình, vốn văn hóa mới tiếp tục dày lên.

Hàn Quốc là một ví dụ rất rõ cho quá trình này. So với Trung Quốc hay Nhật Bản, chiều sâu lịch sử và mức độ ảnh hưởng văn minh của Hàn Quốc trong nhiều thế kỷ không hẳn vượt trội. Nhưng trong vài chục năm gần đây, họ đã liên tục tích lũy thêm vốn văn hóa bằng các sản phẩm đương đại như điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế và nội dung số. Điều đáng chú ý là họ không phát triển bằng cách phủ nhận truyền thống, mà bằng cách liên tục tái cấu trúc các yếu tố văn hóa bản địa trong ngôn ngữ hiện đại. Từ kiến trúc hanok, ẩm thực, trang phục hanbok cho đến mỹ học Á Đông trong điện ảnh hay âm nhạc, mọi thứ đều được chuyển hóa để phù hợp với trải nghiệm của thế hệ toàn cầu mới.

Điều này cho thấy vốn văn hóa thực chất là một dòng chảy sống chứ không phải một kho lưu trữ cố định. Một nền công nghiệp văn hóa mạnh không phải là nền công nghiệp chỉ biết bảo tồn di sản, mà là nền công nghiệp có khả năng liên tục tạo ra “di sản tương lai”. Những bộ phim, tiểu thuyết, công trình kiến trúc, lễ hội hay sản phẩm nghệ thuật của hiện tại rồi cũng sẽ trở thành lớp ký ức văn hóa mà các thế hệ sau tiếp tục kế thừa. Vì vậy, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc một quốc gia đang có bao nhiêu di sản, mà nằm ở việc xã hội đó còn khả năng sáng tạo hay không. Bởi nếu sáng tạo bị ngưng lại, vốn văn hóa sẽ dần bị tiêu hao qua từng thế hệ. Ngược lại, nếu một xã hội duy trì được năng lực sáng tạo liên tục, thì ngay cả những thành tựu văn hóa của hôm nay cũng có thể trở thành phần bề dày lịch sử của ngày mai.

Thực tế, Việt Nam là một quốc gia có bề dày văn hóa, dù phần lớn bề dày ấy đã bị thất tán qua chiến tranh, thuộc địa hóa, biến động chính trị và những thay đổi quá nhanh của thời đại hiện đại. Nếu so với các nền văn minh lớn như Trung Hoa hay Ấn Độ, vốn văn hóa Việt Nam có thể không đồ sộ theo nghĩa hệ thống hóa thành các đế chế văn minh kéo dài hàng nghìn năm với ảnh hưởng khu vực rộng lớn, nhưng điều đặc biệt của Việt Nam nằm ở tính đa dạng và tính giao thoa. Việt Nam nằm trên giao lộ văn hóa Ấn – Trung, đồng thời sở hữu cấu trúc đa tộc người với rất nhiều lớp tín ngưỡng, ngôn ngữ, mỹ học và tập quán khác nhau chồng lên nhau trong lịch sử. Chính điều này khiến vốn văn hóa Việt Nam mang một độ phức hợp rất riêng mà không phải quốc gia nào cũng có.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: chúng ta chưa thực sự tận dụng được lợi thế ấy để tiếp tục làm dày thêm vốn văn hóa trong đời sống hiện đại. Ngược lại, trong nhiều trường hợp, xã hội đang vừa bào mòn di sản cũ, vừa cố gắng phủ lên nó một lớp “văn minh mới” mang tính bề mặt hơn là tiếp nối tự nhiên. Điều này tạo ra một trạng thái khá kỳ quặc: chúng ta nói rất nhiều về bảo tồn văn hóa truyền thống, nhưng lại ít tạo ra được những hình thức sáng tạo mới đủ sức làm cho truyền thống tiếp tục sống trong đời sống đương đại. 

Có thể nhìn rất rõ điều này trong lĩnh vực âm nhạc và sân khấu dân gian. Đã rất lâu rồi ca trù gần như không xuất hiện những tác phẩm mới có giá trị nghệ thuật lớn. Chèo cũng hiếm có những vở diễn mới đạt đẳng cấp cao, cải lương cũng tương tự. Thậm chí, ngay cả các nỗ lực cách tân bên trong chính những loại hình này cũng tương đối yếu và rời rạc. Điều đó khiến nhiều hình thức nghệ thuật truyền thống rơi vào trạng thái giống như “được bảo tồn” hơn là đang thực sự sống.  Vì vậy, trải nghiệm của khán giả khi đi xem nhiều chương trình sân khấu truyền thống hiện nay thường mang cảm giác giống như đang xem một hiện vật phi vật thể được đặt trong tủ kính của bảo tàng. Bản thân sân khấu trở thành không gian trưng bày hơn là không gian sáng tạo. Người xem đến để chứng kiến “một thứ từng tồn tại” thay vì tiếp xúc với một hình thức nghệ thuật vẫn còn đang phát triển. Thực ra không phải hoàn toàn không có sáng tạo mới, nhưng phần lớn các thử nghiệm chưa đạt tới giá trị nghệ thuật đủ cao để tạo ra ảnh hưởng xã hội rộng lớn hoặc mở ra một giai đoạn phát triển mới cho loại hình đó. Vì thế, trong các buổi diễn phục vụ khách du lịch hay cả khán giả nội địa, người ta vẫn tiếp tục lặp lại những tiết mục cũ qua nhiều năm gần như không thay đổi. 

Điều này rất khác với sân khấu kịch hoặc opera ở phương Tây. Những loại hình ấy vẫn giữ kỹ thuật và tinh thần truyền thống, nhưng liên tục tạo ra tác phẩm mới, cách dàn dựng mới và những diễn giải mới phù hợp với từng thời đại khác nhau. Một vở Shakespeare ngày nay không còn được trình diễn giống hệt vài thế kỷ trước, nhưng điều đó không làm mất đi giá trị truyền thống của Shakespeare. Ngược lại, chính sự tái diễn giải liên tục mới giúp di sản tiếp tục sống. Tôi đã từng xem trích đoạn phiên bản “Hamlet” rất kỳ lạ của nữ diễn viên đồng giới Suzy Eddie Izzard. Toàn bộ sân khấu được tối giản đến mức gần như trống rỗng, và chỉ có bà là diễn viên duy nhất đảm nhận 23 vai khác nhau trong vở kịch bao gồm cả vai nam và vai nữ. Chính sự tối giản ấy lại khiến toàn bộ bi kịch tâm lý của “Hamlet” trở nên dữ dội hơn, bởi mọi thứ phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng biểu đạt của người diễn và trí tưởng tượng của khán giả. Điều thú vị là dù cách dàn dựng đã thay đổi rất mạnh so với hình thức sân khấu cổ điển, người xem vẫn cảm nhận rõ tinh thần Shakespeare bên trong nó. Nữ diễn viên ấy đã mang vở diễn đi lưu diễn khắp nhiều nơi trên thế giới, và bản thân trải nghiệm đó khiến tôi nhận ra rằng: di sản chỉ thật sự sống khi mỗi thế hệ tiếp tục đối thoại với nó bằng ngôn ngữ của thời đại mình.

Gần đây, Trung Quốc cũng cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý khi họ bắt đầu cách tân mạnh nhiều loại hình sân khấu truyền thống. Một ví dụ tiêu biểu là vở “Tân Long Môn Khách Sạn” của Việt kịch. Điều thú vị nằm ở chỗ đây không phải một tác phẩm “phục dựng truyền thống” theo nghĩa bảo tồn nguyên trạng, mà là một nỗ lực tái sinh truyền thống bằng ngôn ngữ sân khấu đương đại. Bản thân câu chuyện “Long Môn Khách Sạn” vốn đã là một IP văn hóa nổi tiếng trong thế giới võ hiệp Hoa ngữ, từng tồn tại qua tiểu thuyết, điện ảnh và nhiều phiên bản đại chúng khác nhau. Nhưng khi được chuyển thể sang Việt kịch, tác phẩm không đơn thuần trở thành một màn “cổ trang hóa” sân khấu truyền thống. Điều mà ê-kíp thực hiện là đưa toàn bộ mỹ học và kỹ thuật biểu diễn của Việt kịch vốn có lịch sử hàng trăm năm vào một cấu trúc kể chuyện có tiết tấu hiện đại hơn, gần với cảm nhận của khán giả trẻ đương thời hơn. Điều này rất quan trọng. Bởi thay vì yêu cầu khán giả trẻ phải học cách thưởng thức sân khấu truyền thống theo đúng toàn bộ quy chuẩn cũ, họ chủ động tạo ra một “cây cầu” mới để khán giả bước vào thế giới của Việt kịch. Các yếu tố âm nhạc, động tác hình thể, kỹ thuật thanh nhạc và mỹ học sân khấu truyền thống vẫn được giữ lại như phần cốt lõi. Nhưng nhịp dựng, cách xử lý ánh sáng, cấu trúc cảm xúc và cả tinh thần hành động của tác phẩm lại mang hơi thở gần với điện ảnh và sân khấu hiện đại hơn. Chính điều đó khiến người xem không có cảm giác mình đang “học về di sản”, mà đang thật sự thưởng thức một tác phẩm sống.

Xem vở Việt kịch “Tân Long Môn khách sạn”:

Điểm đáng chú ý hơn nữa là hiệu ứng xã hội mà vở diễn tạo ra. Trong nhiều năm, không ít loại hình hí khúc truyền thống của Trung Quốc cũng từng đối mặt với khủng hoảng khán giả già hóa và sự xa cách của thế hệ trẻ. Nhưng Tân Long Môn Khách Sạn lại thu hút được rất đông khán giả trẻ đến rạp, tạo ra lượng thảo luận lớn trên mạng xã hội và khiến nhiều người lần đầu tiên chủ động tìm hiểu về Việt kịch. Điều này cho thấy vấn đề đôi khi không nằm ở bản thân di sản có còn hấp dẫn hay không, mà nằm ở việc chúng ta có đủ năng lực sáng tạo để mở lại kết nối giữa di sản với đời sống hiện tại hay không. Quan trọng hơn, đây là một ví dụ rất rõ cho việc vốn văn hóa chỉ tiếp tục dày lên khi truyền thống được dùng như chất liệu để sáng tạo mới thay vì bị “đóng tủ kính”. Nếu chỉ bảo tồn Việt kịch như một hình thức biểu diễn nguyên mẫu dành cho nghiên cứu hoặc trưng bày, loại hình này có thể vẫn tồn tại về mặt kỹ thuật nhưng sẽ dần mất đi sức sống xã hội. Ngược lại, khi một tác phẩm mới đủ hấp dẫn được tạo ra trên chính nền tảng truyền thống ấy, toàn bộ di sản lại bắt đầu bước vào một chu kỳ sống mới. Khán giả mới xuất hiện, nghệ sĩ mới được đào tạo, ngôn ngữ biểu đạt mới được thử nghiệm và quan trọng nhất là di sản bắt đầu tiếp tục sinh ra giá trị cho hiện tại thay vì chỉ tồn tại như ký ức của quá khứ. Đây có lẽ là khác biệt rất lớn giữa “bảo tồn văn hóa” và “phát triển vốn văn hóa”. Bảo tồn chỉ giúp một giá trị không biến mất, nhưng chỉ có sáng tạo liên tục mới khiến giá trị ấy tiếp tục sống và tiếp tục tích lũy thêm chiều sâu cho tương lai.

 

Vai trò của hạ tầng công nghệ

Một nguồn lực khác tuy ít mang tính nền tảng hơn so với vốn tri thức hay vốn văn hóa, nhưng trong thời đại hiện nay lại ngày càng chiếm vai trò lớn trong cơ cấu vốn của công nghiệp văn hóa, đó là hạ tầng công nghệ. Nếu vốn tri thức quyết định khả năng sáng tạo và vốn văn hóa quyết định chiều sâu bản sắc, thì công nghệ quyết định tốc độ vận hành và khả năng mở rộng của toàn bộ hệ sinh thái.

Trong nhiều giai đoạn lịch sử trước đây, các ngành văn hóa thường bị giới hạn bởi năng lực kỹ thuật. Điện ảnh cần thiết bị đắt đỏ, âm nhạc phụ thuộc vào studio vật lý, xuất bản phụ thuộc vào in ấn và phân phối, còn sân khấu phụ thuộc gần như hoàn toàn vào không gian biểu diễn trực tiếp. Điều đó khiến chi phí sản xuất cao, tốc độ lan truyền chậm và khả năng tiếp cận thị trường bị giới hạn trong không gian địa lý cụ thể. Nhưng sự phát triển của công nghệ đã thay đổi gần như toàn bộ cấu trúc này. Ngày nay, công nghệ không chỉ hỗ trợ sản xuất mà còn tham gia trực tiếp vào toàn bộ chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa. Nó giúp giải quyết các vấn đề kỹ xảo trong điện ảnh, hoạt hình và trò chơi điện tử; giúp lưu trữ và phân phối nội dung với chi phí thấp hơn; giúp tăng tốc độ làm việc giữa các nhóm sáng tạo ở nhiều quốc gia khác nhau; giúp hình thành các nền tảng trình chiếu xuyên biên giới; đồng thời tạo ra những hệ thống kiểm tra doanh thu, quản lý bản quyền và xác thực sở hữu trí tuệ chính xác hơn trước rất nhiều. Đặc biệt, công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ khả năng tiếp cận thị trường của các quốc gia nhỏ hoặc các hệ sinh thái sáng tạo còn non trẻ. Trước đây, để một sản phẩm văn hóa đi ra thế giới cần hệ thống phát hành vật lý rất lớn, cần nhà đài, nhà xuất bản hoặc mạng lưới phân phối quốc tế. Nhưng hiện nay, một bộ phim độc lập, một bài hát hay một trò chơi điện tử hoàn toàn có thể tiếp cận khán giả toàn cầu thông qua các nền tảng số. Điều đó khiến công nghệ trở thành một loại “hạ tầng tăng tốc” cho công nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn rõ rằng công nghệ bản thân nó không tạo ra chiều sâu văn hóa. Nó chỉ khuếch đại những gì đã tồn tại bên dưới. Một hệ sinh thái có vốn tri thức yếu và vốn văn hóa mỏng sẽ khó tạo ra sản phẩm có giá trị lâu dài dù sở hữu công nghệ hiện đại. Thậm chí trong nhiều trường hợp, công nghệ có thể khiến các sản phẩm trở nên hào nhoáng hơn về bề mặt nhưng nghèo nàn hơn về nội dung. Điều này có thể thấy rất rõ trong không ít sản phẩm giải trí hiện nay: kỹ xảo ngày càng mạnh, tốc độ sản xuất ngày càng nhanh nhưng chiều sâu nghệ thuật và khả năng lưu lại trong ký ức xã hội lại ngày càng ngắn. Ngược lại, khi công nghệ được đặt trên nền của vốn tri thức và vốn văn hóa đủ mạnh, nó sẽ tạo ra khả năng mở rộng gần như bùng nổ. Hollywood là ví dụ điển hình cho điều này. Sức mạnh của Hollywood không nằm ở kỹ xảo đơn thuần, mà nằm ở việc họ kết hợp được công nghệ với năng lực kể chuyện và hệ thống sản xuất tri thức đã tích lũy hàng chục năm. Nhật Bản cũng tương tự khi công nghệ giúp anime, manga và game có thể lan rộng toàn cầu mà vẫn giữ được bản sắc riêng. Hàn Quốc cũng dùng hạ tầng số để tăng tốc sức ảnh hưởng của K-pop và điện ảnh ra thị trường quốc tế. Trong tất cả những trường hợp đó, công nghệ không thay thế vốn văn hóa hay vốn tri thức, mà đóng vai trò như một bộ khuếch đại cho các nguồn lực đã tồn tại từ trước. Có lẽ vì vậy mà trong công nghiệp văn hóa, công nghệ nên được nhìn như một phần của cơ cấu vốn hỗ trợ tăng trưởng chứ không phải nền tảng duy nhất của tăng trưởng. Một quốc gia có thể mua công nghệ rất nhanh, nhưng không thể mua chiều sâu văn hóa hay khả năng sáng tạo đã được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Ngoài ra, trong thời đại số, có một vấn đề ngày càng mang tính chiến lược đối với công nghiệp văn hóa, đó là việc nắm giữ các nền tảng nơi hệ sinh thái nội dung vận hành. Nếu trước đây công nghiệp văn hóa chủ yếu xoay quanh năng lực sản xuất tác phẩm, thì hiện nay quyền kiểm soát nền tảng phân phối và kết nối công chúng cũng trở thành một phần rất quan trọng của cơ cấu vốn. Bởi trong môi trường số, nền tảng không chỉ là nơi lưu trữ hay trình chiếu nội dung. Nó quyết định cách nội dung được nhìn thấy, cách doanh thu được phân phối, cách dữ liệu khán giả được thu thập và thậm chí quyết định cả xu hướng thẩm mỹ nào có cơ hội lan rộng hơn. Một nền tảng mạnh không đơn thuần là công cụ kỹ thuật, mà là một dạng “hạ tầng quyền lực” trong công nghiệp văn hóa hiện đại.

Điều này lý giải vì sao nhiều quốc gia hiện nay ngày càng quan tâm đến việc phát triển các nền tảng nội dung bản địa. Khi một quốc gia sở hữu được nền tảng riêng đủ mạnh, các sản phẩm văn hóa trong nước sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận công chúng hơn thay vì phải cạnh tranh hoàn toàn theo luật chơi của các nền tảng nước ngoài. Quan trọng hơn, dòng tiền tạo ra từ hệ sinh thái nội dung cũng có khả năng được giữ lại trong nước nhiều hơn thay vì liên tục chảy ra bên ngoài thông qua phí nền tảng, quảng cáo, dữ liệu người dùng hay cơ chế phân phối doanh thu. Trung Quốc là ví dụ rõ nhất cho hướng đi này. Sự phát triển của Tencent Video, iQIYI, Bilibili hay Douyin không chỉ tạo ra các công ty công nghệ lớn mà còn hình thành cả một hệ sinh thái văn hóa nội địa khổng lồ. Các nền tảng này giúp phim ảnh, hoạt hình, âm nhạc, livestream, game và nhiều hình thức nội dung khác có không gian phát triển riêng, đồng thời tạo điều kiện để các dòng sản phẩm mang tính bản địa tiếp cận lượng công chúng rất lớn mà không hoàn toàn lệ thuộc vào nền tảng phương Tây. Chính điều đó giúp Trung Quốc giữ lại được một phần rất lớn giá trị kinh tế lẫn dữ liệu văn hóa bên trong hệ sinh thái của họ.

Nhưng việc đầu tư vào nền tảng chưa bao giờ là chuyện đơn giản. Xây dựng công nghệ chỉ là phần đầu tiên. Phức tạp hơn nhiều là vận hành được một hệ sinh thái đủ sống động để nền tảng đó có ý nghĩa. Một nền tảng nội dung không thể tồn tại nếu thiếu người dùng, thiếu cộng đồng sáng tạo, thiếu cơ chế chia sẻ doanh thu hợp lý và thiếu khả năng duy trì dòng nội dung liên tục. Đây là lý do rất nhiều nền tảng nội địa ở nhiều quốc gia thất bại dù được đầu tư tài chính lớn: họ tạo ra được phần “hạ tầng kỹ thuật” nhưng không tạo ra được “đời sống văn hóa” bên trong nền tảng đó. Quan trọng hơn, nền tảng càng lớn thì bài toán vận hành càng trở nên phức tạp. Nó không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn liên quan đến kiểm duyệt nội dung, quản trị cộng đồng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phân phối lợi nhuận, thuật toán hiển thị và cả trách nhiệm xã hội đối với văn hóa đại chúng. Một nền tảng yếu có thể làm thất thoát doanh thu. Nhưng một nền tảng vận hành kém còn có thể làm suy yếu toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo bằng cách khuyến khích nội dung ngắn hạn, gây nghiện hoặc dễ lan truyền hơn thay vì các giá trị có chiều sâu lâu dài.

Vấn đề nằm ở chỗ: sự lệ thuộc vào nền tảng nước ngoài không chỉ là sự lệ thuộc về dòng tiền hay công nghệ, mà sâu hơn là sự lệ thuộc về định dạng văn hóa. Bởi mỗi nền tảng công nghệ không đơn thuần là một công cụ trung tính. Bản thân cấu trúc vận hành, giao diện, thuật toán và cơ chế phân phối nội dung của nó đều âm thầm định hình cách con người tiếp nhận thông tin, cách con người tư duy và cuối cùng là cách con người sáng tạo. Con người luôn bị “huấn luyện” bởi công cụ mà họ sử dụng thường xuyên. Khi phần lớn đời sống tinh thần diễn ra trên các nền tảng số, nền tảng sẽ dần định hình não trạng xã hội. Và khi công chúng thay đổi cách tiếp nhận nội dung, người sáng tạo cũng buộc phải thích nghi để tồn tại. Điều này dẫn đến một quá trình biến đổi rất sâu trong cấu trúc văn hóa mà nhiều khi chính chúng ta cũng không nhận ra.

Có thể thấy điều này rất rõ trong báo chí. Nhiều tòa soạn ngày nay không còn viết bài chủ yếu cho độc giả nữa, mà viết cho thuật toán tìm kiếm của Google. Tiêu đề, cấu trúc bài viết, cách chọn từ khóa và cả nhịp triển khai nội dung đều bị ảnh hưởng bởi tiêu chuẩn SEO. Điều đó khiến nhiều bài viết dần ưu tiên khả năng “được tìm thấy” hơn là chiều sâu tư duy hay giá trị đọc dài hạn. Tương tự, mạng xã hội cũng làm thay đổi văn phong của rất nhiều người viết. Không ít tiểu thuyết, tản văn hay bài bình luận ngày nay bắt đầu mang nhịp điệu giống status Facebook: ngắn hơn, nhanh hơn, giàu phản ứng cảm xúc tức thời hơn và ít chiều sâu suy tưởng hơn. Trong lĩnh vực video, tác động còn mạnh hơn. Sự phát triển của TikTok và các nền tảng video ngắn khiến rất nhiều nhà sản xuất nội dung dần tối ưu tác phẩm của mình cho vài giây đầu tiên nhằm giữ người xem ở lại. Nhịp dựng ngày càng nhanh, thời lượng ngày càng ngắn, cấu trúc cảm xúc ngày càng cực đoan hơn để kích thích phản ứng tức thời. Vấn đề không nằm ở bản thân video ngắn, mà ở chỗ khi toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo cùng bị kéo về một kiểu tiếp nhận như vậy, năng lực tập trung và khả năng thưởng thức những nội dung có chiều sâu của xã hội cũng bắt đầu thay đổi theo.

> Đọc thêm: CỖ MÁY THAO TÚNG của Sinan Aral – Một nghiên cứu về cách mạng xã hội chi phối tâm trí và hành vi của chúng ta – Book Hunter

Điều nguy hiểm là quá trình này diễn ra rất âm thầm. Người ta thường nghĩ mình đang tự do lựa chọn nội dung, nhưng trên thực tế, hành vi thưởng thức đã bị điều chỉnh dần bởi thuật toán. Khi thuật toán ưu tiên nội dung dễ lan truyền, gây phản ứng mạnh và giữ thời gian xem cao, toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo sẽ có xu hướng chạy theo các đặc tính đó. Cuối cùng, nhiều nghệ sĩ, nhà báo, nhà văn hay nhà sản xuất nội dung không còn sáng tạo dựa trên chuyển động của nội tại của nghệ thuật hoặc chiều sâu văn hóa nữa, mà sáng tạo dựa trên trật tự của nền tảng. Và đây là điểm đáng lo nhất: các thuật toán công nghệ lớn hiện nay phần lớn không được xây dựng để phát triển chiều sâu văn hóa hay sức khỏe tinh thần của xã hội. Chúng được xây dựng để tối ưu hóa thời gian sử dụng, quảng cáo và khả năng giữ chân người dùng. Điều đó đồng nghĩa với việc những gì có lợi cho nền tảng chưa chắc có lợi cho đời sống tinh thần cộng đồng. 

Một xã hội càng lệ thuộc vào nền tảng bên ngoài, xã hội đó càng dễ để cho cấu trúc văn hóa và nhịp tư duy của mình bị điều chỉnh bởi các trật tự thương mại toàn cầu mà bản thân họ không kiểm soát được. Đó là lý do câu chuyện nền tảng trong công nghiệp văn hóa không chỉ là bài toán kinh tế hay công nghệ. Nó còn là bài toán về chủ quyền tinh thần. Bởi khi một quốc gia không sở hữu được không gian phân phối nội dung của chính mình, rất khó để quốc gia đó chủ động định hình cách xã hội đọc, nghe, xem, suy nghĩ và cảm nhận về thế giới trong dài hạn.

Ảo tưởng về quyền lực của tiền trong nền công nghiệp văn hóa

Và cuối cùng, nguồn lực mà người ta thường nhắc đến nhiều nhất khi bàn về phát triển công nghiệp văn hóa: vốn tư bản, hay cụ thể hơn là tiền. Nhưng có lẽ đây cũng là nguồn lực dễ bị hiểu lầm nhất. Bởi tiền tự bản thân nó không sinh ra được sản phẩm văn hóa. Nó không thể tự viết một cuốn tiểu thuyết, tự tạo ra một giai điệu, tự dựng nên một trường phái hội họa hay tự hình thành một ngôn ngữ điện ảnh mới. Tiền thực chất chỉ là một quy ước để chuyển giao giá trị giữa con người với nhau: trao cho ai đó khả năng sử dụng nguồn lực nhằm đổi lấy công sức sáng tạo, kỹ năng lao động hoặc trực tiếp mua lại thành quả đã được tạo ra.

Thực ra, dạng trao đổi này đã tồn tại từ rất lâu trước khi tiền xuất hiện. Một nhà thơ viết được bài thơ hay rồi tình cờ gặp một nhạc sĩ có khả năng phổ nhạc, họ ngẫu hứng cùng nhau và tạo ra một bài hát đẹp dù không có đồng tiền nào được trao tay. Nhưng kỳ thực, sự trao đổi vẫn đã diễn ra. Họ trao cho nhau cảm hứng, khả năng biểu đạt và cuối cùng là sự lan tỏa danh tiếng mà tác phẩm mang lại. Trước cả khi có tiền, sáng tạo của con người vốn đã vận hành dựa trên việc trao đổi những gì mà họ xem là quý giá. Chỉ là khi tiền được quy ước thành vàng, bạc, đồng, tiền giấy hay tiền điện tử, toàn bộ quá trình trao đổi ấy bắt đầu có khả năng lưu thông ở quy mô lớn hơn rất nhiều. Tiền khiến giá trị có thể được tích lũy, vận chuyển và phân phối tới những nơi mà quyền lực mong muốn. Chính điều này giúp các ngành công nghiệp văn hóa hiện đại có thể hình thành ở quy mô lớn: điện ảnh cần vốn lớn, nền tảng công nghệ cần đầu tư lớn, hệ thống xuất bản, phát hành hay biểu diễn cũng cần những dòng tiền đủ mạnh để vận hành liên tục.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ là trong lĩnh vực văn hóa, tiền thường tạo ra sự điều hướng nhiều hơn là nuôi dưỡng. Bởi khác với nông nghiệp hay công nghiệp sản xuất thông thường, sản phẩm văn hóa không hoàn toàn vận hành theo tư duy tuyến tính của đầu tư tài chính. Một bộ phim được rót vốn lớn chưa chắc tạo ra giá trị nghệ thuật lớn. Một chiến dịch quảng bá khổng lồ chưa chắc sinh ra ảnh hưởng văn hóa lâu dài. Thậm chí nhiều khi, càng nhiều tiền thì sản phẩm càng bị kéo mạnh về những tiêu chí an toàn, dễ bán, dễ mở rộng và ít rủi ro hơn. Điều này xảy ra bởi tiền luôn có xu hướng tìm kiếm khả năng sinh lời và khả năng kiểm soát. Khi dòng tiền trở thành trung tâm của toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo, các quyết định văn hóa cũng bắt đầu bị điều hướng theo hướng tối ưu hóa lợi nhuận ngắn hạn. Người ta ưu tiên các công thức đã thành công, các mô hình dễ nhân bản, các nội dung dễ gây chú ý và những sản phẩm có khả năng mở rộng thị trường nhanh chóng. Điều đó không sai về mặt kinh doanh, nhưng nếu toàn bộ hệ sinh thái cùng vận hành theo lộ trình ấy quá lâu, năng lực thử nghiệm nghệ thuật và chiều sâu văn hóa sẽ dần suy yếu.

Có lẽ vì vậy mà rất nhiều tác phẩm có giá trị lớn trong lịch sử văn hóa nhân loại ban đầu không sinh ra từ những cấu trúc đầu tư khổng lồ. Chúng thường xuất hiện từ những cộng đồng nhỏ, những nhóm nghệ sĩ nhỏ hoặc những cá nhân có khả năng sáng tạo mạnh trước khi được thị trường lớn phát hiện. Nghĩa là tiền thường đóng vai trò khuếch đại một giá trị đã hình thành hơn là tự tạo ra giá trị từ đầu. Đây cũng là lý do vì sao một nền công nghiệp văn hóa khỏe mạnh không thể chỉ tập trung vào việc “rót vốn”. Nếu vốn tri thức yếu, vốn văn hóa mỏng và hệ sinh thái sáng tạo thiếu sức sống, tiền sẽ chủ yếu được dùng để bù đắp khoảng trống thay vì tạo ra giá trị mới. Ngược lại, khi các nguồn vốn nền tảng khác đã đủ bề dày, tiền mới thật sự trở thành chất xúc tác giúp công nghiệp văn hóa mở rộng quy mô và tăng tốc ảnh hưởng.

Cùng với Book Hunter, tôi đã có dịp tìm hiểu khá sâu về vai trò của các tập đoàn đầu tư trong lĩnh vực văn hóa thông qua công trình nghiên cứu đồ sộ “Những gã khổng lồ truyền thông của” Benjamin Birkinbine và nhiều học giả khác . Benjamin Birkinbine cũng là một nhà nghiên cứu đi theo trường phái Frankfurt. Điều đáng chú ý ở cách tiếp cận của ông là không nhìn công nghiệp truyền thông đơn thuần như một lĩnh vực kinh doanh, mà xem nó như một cấu trúc quyền lực có khả năng tác động trực tiếp lên đời sống tinh thần của xã hội hiện đại. Qua các phân tích kinh tế chính trị trong bộ sách, có thể thấy các tập đoàn truyền thông lớn thực sự sở hữu khả năng tăng tốc rất mạnh cho công nghiệp văn hóa. Họ có nguồn vốn khổng lồ, khả năng chiếm lĩnh thị trường nhanh, năng lực phân phối nội dung quy mô lớn và khả năng biến một hiện tượng văn hóa thành sản phẩm đại chúng trong thời gian cực ngắn. Một bộ phim, một ca sĩ, một xu hướng thẩm mỹ hay thậm chí một lối sống có thể được khuếch đại ra toàn cầu chỉ nhờ hệ thống truyền thông và nền tảng phân phối mà các tập đoàn này nắm giữ. Nhưng đi kèm với khả năng tăng tốc ấy là quyền lực điều hướng rất lớn.

Đây là điều mà trường phái Frankfurt đặc biệt lo ngại: khi văn hóa ngày càng bị công nghiệp hóa và tập trung vào tay các tập đoàn lớn, đời sống tinh thần của xã hội cũng dần bị chuẩn hóa theo xu hướng thị trường. Những gì được nhìn thấy nhiều hơn không hẳn là những gì có giá trị sâu sắc hơn, mà thường là những gì dễ tiêu thụ hơn, dễ nhân rộng hơn và tạo ra lợi nhuận ổn định hơn. Quan trọng hơn, các tập đoàn truyền thông lớn luôn tồn tại trong mối quan hệ rất phức tạp với quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Bởi khi một hệ thống có khả năng định hình nhận thức đại chúng, nó cũng trở thành công cụ mà nhiều thế lực muốn tác động vào. Điều này khiến công nghiệp văn hóa không còn đơn thuần là không gian sáng tạo, mà trở thành một phần của cuộc cạnh tranh ảnh hưởng trong xã hội hiện đại.

>> Tìm hiểu thêm: Bộ sách “Những gã khổng lồ truyền thông qua góc nhìn kinh tế – chính trị” (10 cuốn) – Benjamin Birkinbine, Rodrigo Gomez, Janet Wasko (biên tập) – Book Hunter Lyceum

Có thể thấy điều này rất rõ trong cách các nền tảng và hệ thống truyền thông lớn hiện nay định hình hành vi tiêu dùng văn hóa. Họ không chỉ phân phối sản phẩm, mà còn dần tạo ra thói quen thưởng thức. Công chúng nghe loại nhạc nào, xem loại phim nào, đọc theo tốc độ nào hay phản ứng với thông tin theo kiểu gì đều chịu ảnh hưởng mạnh từ cấu trúc phân phối nội dung của các ông lớn công nghệ và truyền thông. Sau một thời gian đủ dài, thị hiếu xã hội bắt đầu được hình thành không chỉ từ nhu cầu tự nhiên của con người mà còn từ nguyên tắc vận hành của thị trường truyền thông. Và điều đáng chú ý hơn nữa là áp lực ấy cuối cùng quay ngược trở lại chính những người sáng tạo văn hóa. Đạo diễn phải nghĩ đến khả năng bán vé và thuật toán nền tảng trước khi nghĩ đến cấu trúc nghệ thuật của phim. Nhạc sĩ phải tính đến khả năng viral của một đoạn điệp khúc ngắn trước khi nghĩ đến toàn bộ chiều sâu âm nhạc của ca khúc. Nhà văn phải cân nhắc nhịp đọc mạng xã hội trước khi giữ nhịp văn chương riêng của mình. Tức là thị trường không còn chỉ phân phối văn hóa, mà bắt đầu can thiệp trực tiếp vào quá trình tạo ra văn hóa. Mặc dù Benjamin Birkinbine sử dụng hình tượng con bạch tuộc với những chiếc vòi vươn khắp thế giới để mô tả các tập đoàn truyền thông khổng lồ, nhưng tôi luôn cảm thấy có lẽ biểu tượng phù hợp hơn phải là con rắn đang tự ăn đuôi mình. Bởi nghịch lý lớn nhất của công nghiệp văn hóa hiện đại nằm ở chỗ: càng công nghiệp hóa ở quy mô lớn, hệ thống càng có xu hướng tiêu thụ chính nền tảng văn hóa đã tạo ra nó. 

Nếu các chuyên gia tài chính đọc kỹ báo cáo của nhiều tập đoàn truyền thông và giải trí lớn trên thế giới, họ hẳn sẽ khá hoang mang trước tình trạng thua lỗ kéo dài hoặc biên lợi nhuận cực kỳ mong manh ở nhiều mảng được xem là “trung tâm văn hóa” như điện ảnh, âm nhạc hay sản xuất chương trình giải trí. Điều này nghe có vẻ phi lý, bởi chúng ta thường nghĩ rằng chính các bộ phim bom tấn hay các show diễn lớn mới là cỗ máy kiếm tiền chủ đạo. Nhưng trên thực tế, ở rất nhiều tập đoàn truyền thông, những mảng tạo ra dòng tiền ổn định và bền vững hơn lại thường là quảng cáo, nền tảng công nghệ, dữ liệu người dùng, hạ tầng phân phối và đặc biệt là các dạng nội dung giáo dục hoặc sách giáo trình. Điều đó cho thấy một sự thật khá thú vị: bản thân sản phẩm văn hóa nhiều khi không phải trung tâm lợi nhuận, mà là “nam châm chú ý” để kéo con người vào trong hệ sinh thái tiêu dùng rộng lớn hơn. Một bộ phim lớn có thể lỗ trực tiếp về doanh thu phòng vé nhưng lại giúp nền tảng streaming tăng thuê bao. Một chương trình âm nhạc có thể không tạo ra lợi nhuận lớn từ bán vé nhưng lại giúp tăng doanh thu quảng cáo, bán dữ liệu người dùng hoặc mở rộng ảnh hưởng của nền tảng phân phối. Tức là công nghiệp văn hóa hiện đại ngày càng vận hành theo tiến trình của nền kinh tế chú ý hơn là nền kinh tế tác phẩm.

Chính vì vậy mà biểu tượng “con rắn tự ăn đuôi” có lẽ phản ánh đúng hơn trạng thái của hệ thống này. Các tập đoàn truyền thông cần liên tục sản xuất ra những kích thích văn hóa mới để duy trì dòng chú ý, nhưng quá trình ấy cũng đồng thời khiến tốc độ tiêu thụ văn hóa ngày càng nhanh hơn. Nội dung phải nhiều hơn, ngắn hơn, mạnh hơn và gây phản ứng tức thời hơn để cạnh tranh trong môi trường thuật toán. Cuối cùng, chính hệ thống công nghiệp ấy bắt đầu làm bào mòn khả năng thưởng thức chiều sâu của công chúng, tức là bào mòn nền tảng tinh thần mà nó cần để tồn tại lâu dài. Điều nghịch lý là những lĩnh vực tạo ra doanh thu ổn định nhất trong hệ sinh thái ấy lại thường không phải nơi sản sinh chiều sâu văn hóa mạnh nhất. Quảng cáo cần tối ưu sự chú ý, nền tảng công nghệ cần tối ưu thời gian sử dụng, còn sách giáo trình tạo ra dòng tiền bền vững vì nhu cầu giáo dục mang tính bắt buộc và ổn định. Trong khi đó, nghệ thuật đích thực thường vận hành chậm hơn, khó đo lường hơn và chứa nhiều rủi ro hơn rất nhiều. Nó không phải lúc nào cũng tạo ra lợi nhuận nhanh, nhưng lại là thứ giúp duy trì chiều sâu tinh thần cho toàn bộ xã hội.

Vì vậy, khi tiền và quyền lực thị trường ngày càng chi phối công nghiệp văn hóa, điều quan trọng không còn chỉ là câu hỏi “làm sao để kiếm tiền từ văn hóa”, mà còn là “làm sao để hệ thống kiếm tiền ấy không phá hủy nền tảng văn hóa khiến nó tồn tại”. Bởi nếu toàn bộ đời sống sáng tạo chỉ còn chạy theo tăng trưởng chú ý và tối ưu hóa lợi nhuận ngắn hạn, công nghiệp văn hóa cuối cùng rất dễ rơi vào trạng thái tự tiêu hao chính nguồn lực tinh thần mà nó cần để tiếp tục sinh trưởng.

Làm văn hóa trước, làm công nghiệp văn hóa sau

Có lẽ vì vậy mà sau tất cả những gì đã bàn về vốn tri thức, vốn văn hóa, hạ tầng công nghệ hay vốn tư bản, tôi đi đến một kết luận khá đơn giản: muốn có công nghiệp văn hóa, trước hết phải làm văn hóa. Nếu phần “công nghiệp” phát triển nhanh hơn phần “văn hóa”, toàn bộ hệ thống rất dễ rơi vào trạng thái tăng trưởng bề mặt nhưng rỗng lõi. Nó có thể tạo ra doanh thu, tạo ra hiện tượng truyền thông, tạo ra những chu kỳ tiêu dùng ngắn hạn, nhưng rất khó tạo ra chiều sâu tinh thần đủ để duy trì ảnh hưởng lâu dài.

Điều này có nghĩa rằng trước khi nghĩ đến việc tối ưu hóa thị trường văn hóa, một xã hội cần nghĩ đến việc tích tụ bề dày văn hóa cho chính mình. Và bề dày ấy không thể được tạo ra chỉ bằng những sản phẩm chiều theo thị hiếu tức thời. Những sáng tạo văn hóa đích thực thường xuất hiện từ nhu cầu biểu đạt sâu sắc của con người hơn là từ tính toán thị trường. Chúng có thể khó hiểu ở thời điểm ra đời, có thể không bán chạy ngay lập tức, thậm chí có thể bị xem là dị thường hoặc lệch khỏi gu thưởng thức phổ biến của số đông. Nhưng chính những thứ ấy lại thường là nơi mở ra các ngôn ngữ nghệ thuật mới và tạo thêm chiều sâu cho nền văn hóa về lâu dài.

Lịch sử văn hóa nhân loại đã nhiều lần chứng minh điều đó. Rất nhiều tác phẩm lớn ban đầu không được thị trường đón nhận mạnh mẽ, nhưng về sau lại trở thành nền tảng tinh thần cho nhiều thế hệ. Nếu một hệ sinh thái chỉ ưu tiên những gì dễ bán, dễ lan truyền và tạo doanh thu nhanh, nó sẽ dần đánh mất khả năng sinh ra các đột phá văn hóa thật sự. Và một khi năng lực sáng tạo cốt lõi suy yếu, công nghiệp văn hóa rồi cũng chỉ còn lại khả năng tái chế những công thức cũ dưới các lớp bao bì mới.

Có lẽ vì vậy mà một xã hội muốn phát triển công nghiệp văn hóa bền vững cần học cách đặt sự sáng tạo văn hóa ở đúng vị trí xứng đáng của nó, kể cả khi sự sáng tạo ấy chưa phù hợp với thị hiếu đại chúng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các thiết chế công như nhà nước, trường học, quỹ hỗ trợ hay các cơ quan hoạch định chính sách văn hóa. Nếu toàn bộ hệ thống chỉ chăm chăm cổ vũ những sản phẩm bán chạy, đạt lượng xem cao hay nhanh chóng tạo doanh thu, thì vô hình trung xã hội đang gửi đi một tín hiệu rằng giá trị của văn hóa chỉ nằm ở khả năng tiêu thụ. Trong khi đó, vai trò của văn hóa chưa bao giờ chỉ là tiêu dùng. Văn hóa còn là nơi lưu giữ trí nhớ tập thể, mở rộng khả năng tưởng tượng của con người, tạo ra các hệ giá trị mới và giúp xã hội đối thoại với chính mình. Những chức năng này thường vận hành rất chậm, khó đo lường và nhiều khi không thể quy đổi ngay thành lợi nhuận. Nhưng nếu thiếu chúng, công nghiệp văn hóa sẽ rất dễ trở thành một cỗ máy sản xuất giải trí thuần túy hơn là một động lực phát triển tinh thần của xã hội.

Đó là lý do tôi nghĩ rằng chính quyền, thay vì quá vội vàng ca ngợi mọi hiện tượng bán chạy như biểu hiện của thành công văn hóa, cần thận trọng hơn trong việc định nghĩa giá trị. Một sản phẩm bán chạy có thể là tín hiệu tốt của thị trường, nhưng không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của sự tích lũy văn hóa. Điều quan trọng hơn là liệu xã hội đó có đang tiếp tục sinh ra các nghệ sĩ lớn, các tư tưởng mới, các hình thức biểu đạt mới và các công trình có khả năng tồn tại lâu dài hay không. Bởi cuối cùng, công nghiệp văn hóa chỉ là phần nổi có thể nhìn thấy của một nền văn hóa đang sống. Nếu phần gốc không đủ sâu, phần ngọn dù phát triển nhanh đến đâu cũng rất khó đứng vững trong thời gian dài.

Hà Thủy Nguyên

*Ảnh minh họa: Một cảnh trong bộ phim “Xuân, hạ, thu, đông rồi lại xuân” của đạo diễn Kim Ki Duk, cho thấy khả năng sáng tạo văn hóa tích lũy thêm vốn văn hóa ở Hàn Quốc.

Mời các bạn đón đợi phần 4 của bài viết: Sở hữu trí tuệ và ám ảnh AI.

> Đọc đầy đủ chùm bài: Hiểu về Công nghiệp văn hóa Archives – Book Hunter

CHÚNG TÔI ĐÃ VÀ ĐANG THỰC HIỆN DỰ ÁN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA, MỜI CÁC BẠN TÌM HIỂU TẠI ĐÂY.

 

Viết tiểu thuyết lịch sử để làm gì?

Tiểu thuyết lịch sử là gì? Đó là câu hỏi gây tranh cãi trên mọi văn đàn dù ở Việt Nam hay trên thế giới. Nội tại của khái niệm “tiểu thuyết lịch sử” chứa nhiều nghịch lý: Một thái cực là “lịch sử” với các đòi hỏi về tính xác thực của sự kiện và nhân vật, thái cực khác là “tiểu thuyết” với những khoảng không hư cấu không giới hạn. Như vậy, tiểu thuyết lịch sử chông chênh đi giữa ranh giới
Xem

KLAUS (2019) – MỘT NGHĨA CỬ THIỆN CHÍ LUÔN CÓ CÁCH TỰ LAN RỘNG

Đã rất lâu rồi kể từ ngày “Rise of the Guardians” được công chiếu vào năm 2012, đến nay, sau 7 năm, mới có lại một phim hoạt hình cho mùa Noel đi vào lòng người như “Klaus”.Bộ phim kể về hành trình của cậu thanh niên con ông cháu cha tên Jesper học tại Học viên bưu chính. Cậy gia thế và tiền tài của người bố, Jesper không chịu học hành mà chỉ tập trung cho việc ăn chơi trác táng. Nhìn thấy
Xem

Ma cà rồng & Người sói – Biểu tượng tình dục hoang dã

Nếu ở những thế kỷ trước Ma cà rồng hay Người Sói là nỗi ám ảnh sợ hãi của con người thì ở cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, những tạo vật độc ác này lại trở thành biểu tượng cho một vẻ đẹp gợi dục đầy khao khát và đam mê. Trào lưu này bắt đầu từ khi hình ảnh của Ma cà rồng mà đại diện là Bá tước Dracula (1950s) và Người Sói (1960s) xuất hiện trên màn ảnh
Xem

GLASS VS TÂM LÝ TRỊ LIỆU

Xem “Glass”, hẳn người ta sẽ hoang mang, không phải vì bị ám ảnh, mà bởi không biết bộ phim này thuộc dòng tâm lý bệnh hoạn hay là siêu anh hùng. Sau “Split”, bộ phim có thể nói là thú vị nhất trong số các phim về đề tài rối loạn đa nhân cách, người xem hẳn nhiên sẽ kỳ vọng tiếp tục được tăng cấp độ về sự điên loạn của hội đồng các nhân cách. Nhưng không, sự kết hợp với bộ
Xem

Đầu xuân xem “Long thành cầm giả ca”

Lần đầu tiên biết đến “Long thành cầm giả ca” là năm 2010. Năm đó, tôi mới vào lớp 10, bắt đầu học thơ Nguyễn Du. Đó cũng là năm kỉ niệm 1000 năm Thăng Long, trên TV có nhiều chương trình kỉ niệm đại lễ ấy. Cùng năm ấy, tôi xem trên TV được một đoạn giới thiệu phim “Long thành cầm giả ca”, và nghe Nhật Kim Anh đọc bài thơ cùng tên của Nguyễn Du. Tôi vẫn luôn ghi nhớ ấn tượng