Home Chiêm nghiệm tinh thần Phú Quốc đẹp, nhưng Phú Quốc ở đâu?

Phú Quốc đẹp, nhưng Phú Quốc ở đâu?

Ngay trong ngày đầu tiên đặt chân đến Phú Quốc, cảm giác đầu tiên của mình không phải là choáng ngợp trước biển xanh hay sự hào nhoáng của một “đảo Ngọc” nổi tiếng, mà là một cảm giác hụt hẫng rất khó gọi tên. Từ khu vực sân bay cho đến các trục đường lớn, đâu đâu cũng là công trường, xe tải, bụi xây dựng. Sau đó mình mới tìm hiểu và biết rằng APEC 2027 sẽ được tổ chức tại đặc khu Phú Quốc với chủ đề: “Kết nối, xây dựng các nền kinh tế bao trùm và tự cường”. Để chuẩn bị cho sự kiện này, hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn đang được triển khai đồng thời: mở rộng sân bay quốc tế, xây dựng trung tâm hội nghị và nâng cấp hệ thống điện nước, đường giao thông, cảng biển và cơ sở lưu trú.

Một góc “Đại công trường” Phú Quốc. Nguồn: Sophia Ngô

Từ nơi mình lưu trú ở Nam đảo, tại Sunset Town, mỗi đêm lại có màn pháo hoa rực sáng phía trước ban công. Phía sau tòa nhà là ánh đèn trắng lạnh từ các công trường xây dựng hoạt động xuyên đêm. Giữa hai nguồn sáng ấy, mình chợt hiểu vì sao báo chí gọi nơi đây là “đại công trường không ngủ”. Sau một ngày loanh quanh trong các khu tham quan với những con phố Địa Trung Hải, những quảng trường kiểu châu Âu, những tổ hợp nghỉ dưỡng khổng lồ có thể khiến du khách trầm trồ, nhưng chúng cũng khiến mình tự hỏi: Đâu là phần không thể thay thế của Phú Quốc? Nếu bỏ đi biển xanh và thời tiết nhiệt đới, liệu nơi này còn điều gì khiến người ta nhớ rằng mình đang đứng trên một hòn đảo của vùng biển Tây Nam Việt Nam?

Sau một ngày chìm trong cảm giác lạc lõng ấy, mình quyết định không rời đảo với một câu trả lời quá vội vàng. Ngày hôm sau, mình mượn xe máy của một người bạn và tự chạy một vòng quanh đảo. Trước chuyến đi này, mình đã dành rất nhiều thời gian tìm hiểu về lịch sử, địa khí, tín ngưỡng, nghề biển, nghề làm nước mắm, nghề trồng tiêu, cũng như đời sống của cư dân nơi đây. Và mình muốn tự mình đối chiếu những điều đã đọc với những gì đang hiện hữu trước mắt.

Bài viết dưới đây là những gì mình tìm hiểu được về Phú Quốc, nhưng đồng thời cũng là hành trình mình đi tìm xem, giữa bê tông, pháo hoa, công trường và những giấc mơ tăng trưởng, liệu hòn đảo này còn giữ được tiếng nói của riêng mình hay không.

Vùng đất và con người

Vị trí địa lý

Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất trong vịnh Thái Lan, thuộc vùng Tây Nam của Việt Nam. Xét về mặt địa lý, đảo trải dài từ khoảng 9⁰53’ đến 10⁰28’ vĩ độ Bắc và từ 103⁰49’ đến 104⁰05’ kinh độ Đông. Với diện tích khoảng 567 km² (theo số liệu năm 2005), đảo có chiều dài gần 49 km; nơi rộng nhất ở phía Bắc khoảng 25 km, trong khi đoạn hẹp nhất ở phía Nam chỉ khoảng 3 km. Không gian của đảo được phân chia thành những vùng mang sắc thái rất khác nhau: phía Đông là Hàm Ninh với núi và làng chài lâu đời; phía Tây là Dương Đông – trung tâm giao thương và hành chính; phía Nam là An Thới – cửa ngõ hướng ra quần đảo phía Nam; còn phía Bắc là vùng Bắc đảo với rừng nguyên sinh và hệ sinh thái còn tương đối nguyên vẹn. Đảo nằm cách Hà Tiên khoảng 45 km, cách thành phố Rạch Giá khoảng 120 km và phần phía Bắc tiếp giáp vùng biển Campuchia.

Bản đồ Phú Quốc. Nguồn: Phú Quốc Xanh

Không chỉ bao gồm đảo chính, không gian biển Phú Quốc còn được cấu thành bởi rất nhiều đảo nhỏ nằm rải rác xung quanh. Phía Bắc có hòn Nần và hòn Phú Dự; phía Đông Bắc có hòn Một; phía Nam là quần đảo An Thới gồm nhiều đảo như Hòn Thơm, hòn Gầm Ghì, hòn Móng Tay, hòn Mây Rút…; phía Tây có hòn Bần, hòn Thầy Bói, hòn Đồi Mồi. Chính cấu trúc quần đảo này đã tạo nên cho Phú Quốc một không gian biển đa tầng, nơi núi, rừng, làng chài, luồng hải lưu và các tuyến giao thương cổ cùng tồn tại trong một hệ sinh thái biển đảo đặc biệt của vùng vịnh Thái Lan.

Nằm sâu trong vùng biển phía Nam của Tổ quốc, Phú Quốc từ lâu đã giữ một vị trí địa lý – kinh tế quan trọng. Không chỉ sở hữu nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú như hải sản, rừng và hệ sinh thái biển, đảo còn nằm trên tuyến giao thương kết nối với Campuchia, Thái Lan và nhiều vùng thuộc bán đảo Đông Dương. Chính vị trí ấy khiến Phú Quốc từ sớm trở thành nơi neo đậu tàu thuyền, trung chuyển hàng hóa và hình thành các cộng đồng cư dân biển. Đồng thời, về mặt quốc phòng, đảo giữ vai trò như một tiền đồn án ngữ vùng biển Tây Nam của Việt Nam. Trong lịch sử mở cõi phương Nam cũng như trong các giai đoạn chống ngoại xâm, Phú Quốc luôn là một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, không chỉ bởi giá trị quân sự mà còn bởi vai trò kết nối giữa đất liền Việt Nam với không gian biển Đông Nam Á.

Địa chất

Xét về cấu tạo địa chất, Phú Quốc không phải là một hòn đảo tách biệt hoàn toàn, mà được xem như phần kéo dài ra biển của quần thể núi Voi thuộc vùng Kampot của Campuchia. Dưới tác động của các nếp đứt gãy địa chất, những khối đá bị nâng lên khỏi mặt nước, hình thành nên đảo Phú Quốc cùng hệ thống đảo nhỏ xung quanh. Chính quá trình vận động ấy đã tạo nên địa hình đặc trưng của đảo với các dãy cao nguyên, thung lũng và những triền núi nối tiếp nhau, trong đó đỉnh cao nhất là núi Chúa ở phía Đông Bắc với độ cao khoảng 603 m. Nhìn từ góc độ địa chất, cấu trúc của Phú Quốc cho thấy đây không chỉ là một đảo du lịch nhiệt đới đơn thuần, mà là một phần của hệ địa hình cổ kéo dài từ lục địa Đông Nam Á xuống vùng vịnh Thái Lan.

Theo cuốn Lịch sử Phú Quốc qua Tài liệu Lưu Trữ, nền địa chất của đảo chủ yếu gắn với sa thạch silic, tạo nên cấu trúc trầm tích không đồng đều cùng hiện tượng phân tầng chéo xuất hiện khá phổ biến. Kết quả khảo sát của phái đoàn điều tra nông nghiệp Pháp năm 1942 cũng cho thấy Phú Quốc hầu như không có lớp đất bồi hình thành từ phù sa bên ngoài như nhiều vùng đồng bằng khác. Đất trên đảo chủ yếu được tạo ra từ quá trình phong hóa và phân hủy của đá mẹ, kết hợp với phần đóng góp của đá vụn và lớp vật chất nền. Thành phần địa chất này chủ yếu gồm khoáng sa thạch silic với các hạt cát thạch anh liên kết bởi lớp xi măng chứa oxit sắt hoặc nhôm oxit sắt. Ở một số nơi, các hạt cát được thay thế bằng đá cuội nhỏ, tạo nên dạng đá cuội kết mềm hơn sa thạch silic, như tại khu vực Cây Dừa – nơi cấu trúc đá gồm sa thạch silic, sa thạch chứa xi măng oxit sắt và sa thạch chứa nhôm sắt.

Quá trình phong hóa hóa học của các loại đá này bắt đầu bằng sự hòa tan dần lớp xi măng sắt và nhôm sắt, từ đó giải phóng các hạt cát thạch anh. Điều này khiến đất ở Phú Quốc mang đặc điểm điển hình của đất hình thành từ sa thạch phong hóa: chứa nhiều cát, nghèo khoáng chất và thiếu các thành phần kết dính tự nhiên. Các chất như axit photphoric, canxi, magie oxit hay kali hydroxit đều xuất hiện với tỷ lệ thấp. Đáng chú ý hơn, phần chất keo của đất không phải đất sét theo nghĩa thông thường mà chủ yếu là các hợp chất silicat nhôm và sesquioxit sắt, nhôm bị hydrat hóa. Chính nền địa chất này tạo ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển nông nghiệp trên đảo. Dưới tác động mạnh của ánh nắng nhiệt đới trong mùa khô, nhiều vùng đất có tỷ lệ sesquioxit thấp trở nên khô cứng, khó giữ nước và khó cải tạo. Điều đó lý giải vì sao dù sở hữu hệ sinh thái phong phú, việc canh tác nông nghiệp ở Phú Quốc từ lâu vẫn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm địa phương và sự thích nghi với điều kiện tự nhiên đặc thù của đảo.

Địa hình

Xét về tổng thể địa hình, Phú Quốc được định hướng theo trục Bắc – Nam với độ nghiêng dần về phía Bắc và Đông Bắc. Chính cấu trúc này tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa các mặt của đảo. Ở phía Bắc và phía Đông, nơi các dãy núi tiến sát ra biển, đường bờ biển thường dốc và gồ ghề, đặc biệt là khu vực Tây Bắc ven dãy núi Bãi Dài. Ngược lại, phía Tây của đảo lại mở ra những dải cát trắng kéo dài hàng kilomet, được bao bọc bởi các cồn cát thấp và những vùng đồng bằng ven biển rộng lớn. Sự đối lập ấy khiến Phú Quốc không mang hình thái đơn điệu của một đảo nhiệt đới thông thường, mà giống một không gian địa hình chuyển tiếp giữa núi, rừng, biển và đầm lầy.

Do chịu tác động từ cấu trúc địa chất cổ, địa hình đảo khá đa dạng với sự hiện diện đồng thời của núi, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng cùng hệ thống sông rạch phân bố khắp đảo. Chính mạng lưới thủy văn này không chỉ bảo đảm nguồn nước sinh hoạt mà còn tạo nên các tuyến lưu thông tự nhiên nối rừng với biển. Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của Phú Quốc là hệ thống núi dày đặc với khoảng 99 ngọn núi lớn nhỏ. Dù phần lớn là núi thấp, đảo vẫn có nhiều đỉnh cao trên 300 m như núi Chảo cao 370 m, núi Chúa cao 603 m, núi Hàm Rồng cao 365 m, núi Bãi Đột cao 490 m, núi Đá Bạc cao 345 m hay núi Hàm Ninh cao khoảng 310 m. Các dãy núi này không chỉ tạo nên cấu trúc xương sống của đảo mà còn là nơi khởi nguồn của nhiều hệ suối và mạch nước ngầm quan trọng.

Đi cùng với địa hình núi là hệ thảm thực vật dày đặc, hình thành nên các khu rừng nguyên sinh chiếm khoảng bảy phần mười diện tích toàn đảo, trong khi diện tích đất canh tác chỉ vào khoảng 12-18 nghìn mẫu. Vườn quốc gia Phú Quốc hiện có diện tích khoảng 31.422 ha, chiếm hơn một nửa diện tích đảo và trải dài qua các xã như Cửa Dương, Cửa Cạn, Gành Dầu, Bãi Thơm, Hàm Ninh và một phần xã Dương Tơ. Hệ sinh thái rừng trên đảo được phân chia thành nhiều tầng: rừng sú vẹt ở các vùng đất thấp ven biển, rừng bình nguyên với cây tràm là quần cư chủ đạo, và vùng rừng núi nơi các loài cây dầu phát triển mạnh. Ngoài ra còn có sự xuất hiện của các loài cây như trâm, vên vên, nhum, dương liễu, còng hay chay, tạo nên một hệ sinh thái nhiệt đới đa dạng với các dạng rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn, rừng úng phèn cùng thảm cỏ biển và rạn san hô ven bờ.

Bên cạnh hệ núi và rừng, Phú Quốc còn có mạng lưới sông rạch dày đặc đổ ra biển như rạch Tràm, Cửa Cạn, rạch Dương Đông hay rạch Cửa Lấp. Phần lớn đều là các con rạch nhỏ, trong đó chỉ rạch Dương Đông đủ khả năng cho ghe lớn lưu thông. Ngoài hệ thống rạch, đảo còn sở hữu nhiều suối nước ngọt cùng các mạch nước ngầm bắt nguồn từ dãy núi Hàm Ninh, đủ cung cấp cho sinh hoạt của cư dân. Đường bờ biển của đảo vì thế cũng được chia thành ba vùng khác nhau: mặt Hàm Ninh ở phía Đông với bãi cát thoải lấn sâu ra biển; mặt Dương Đông ở phía Tây với các bãi cát ngắn hơn nhưng nhiều ghềnh đá ngầm; và vùng rạch Tràm phía Bắc với cấu trúc ven biển chịu ảnh hưởng mạnh từ rừng và đầm nước.

Chính sự kết hợp giữa núi, rừng, biển và hệ thủy văn đã khiến Phú Quốc vừa mang đặc điểm của một “đảo núi”, vừa là một không gian sinh thái chuyển tiếp đặc biệt của vùng biển Tây Nam. Phần lõi của đảo là hệ núi cổ kéo dài liên hệ với cấu trúc địa chất Hà Tiên – Kiên Giang – Campuchia, vì thế về mặt địa chất và địa khí, Phú Quốc chưa bao giờ hoàn toàn tách rời đất liền. Có thể thấy rất rõ sự chuyển tiếp địa hình từ Bắc xuống Nam: phía Bắc là rừng già, núi cao, độ ẩm lớn cùng nhiều dòng suối bắt nguồn từ núi như suối Đá Bàn, Suối Tranh hay sông Dương Đông; càng xuống phía Nam, địa hình càng thấp dần và mở rộng ra biển cùng quần đảo An Thới. Điều đặc biệt là dù núi ở Phú Quốc không quá cao, đảo vẫn sở hữu độ ẩm rất lớn, hệ rừng dày và nguồn nước ngầm dồi dào. Chính vì vậy, Bắc đảo, đặc biệt quanh Gành Dầu, Bãi Thơm, Cửa Cạn và vùng rừng quanh núi Chúa, thường được xem là khu vực giữ khí mạnh nhất của đảo, nơi rừng già, suối ngầm và mật độ dân cư thưa tạo nên một bầu không khí rất khác so với phần còn lại của Phú Quốc.

Tài nguyên

Nhờ cấu tạo địa chất đa dạng cùng hệ sinh thái đặc thù của vùng biển Tây Nam, Phú Quốc được thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú cả về khoáng sản, rừng và động thực vật. Không chỉ là một đảo du lịch nhiệt đới, Phú Quốc còn là một không gian sinh thái giàu tài nguyên, nơi cấu trúc địa chất cổ, hệ núi rừng và môi trường biển cùng tạo nên một nền tảng tự nhiên có giá trị lớn về kinh tế cũng như sinh thái học. Chính sự phong phú này đã góp phần hình thành nên đời sống cư dân đảo từ rất sớm, đồng thời tạo ra những nghề nghiệp và tri thức bản địa gắn chặt với thiên nhiên.

Về tài nguyên khoáng sản, đảo sở hữu nhiều loại đá và cát có nguồn gốc từ hệ sa thạch cổ. Ở vùng Đông Bắc, khu vực phía Nam giữa núi Chảo và núi Hàm Rồng từng phát hiện than cùng các hạch đá đỏ chứa sắt. Tại cửa sông rạch Đình cũng ghi nhận sự xuất hiện của limonit với hàm lượng tương đối lớn. Trên tuyến đường từ Gành Gió đến Khu Tượng có nhiều dấu lộ của quặng sắt laterit dạng hạt nhỏ, trong khi gần một con suối thuộc khu vực này còn xuất hiện dấu vết của cao lanh. Ngoài ra, người ta cũng tìm thấy than nâu cùng nhiều loại quặng sắt khác trên đảo. Những dấu tích khoáng sản ấy cho thấy Phú Quốc không chỉ mang giá trị cảnh quan mà còn là một cấu trúc địa chất giàu tiềm năng, có liên hệ sâu với hệ địa chất kéo dài từ vùng Hà Tiên – Kampot xuống vịnh Thái Lan.

Bên cạnh khoáng sản, tài nguyên rừng là một trong những giá trị quan trọng nhất của Phú Quốc. Với khoảng bảy phần mười diện tích được bao phủ bởi rừng, đảo sở hữu hệ thực vật phong phú với nhiều loại gỗ quý và cây bản địa có giá trị cao. Nhiều vùng trên đảo gắn với các quần cư thực vật đặc trưng như cẩm thi ở Gành Gió; trai ở rạch Ven và rạch Tràm; sao ở Dương Tơ; bời lời tại bến Tràm và Dương Tơ; huỳnh ở bến Tràm; kiền kiền tại Ông Lãng và bến Tràm; thông và dương liễu ở vùng bến Tràm; chay ở Gành Gió; hay các loài dầu, mít nai phân bố giữa núi Chóp Chài và dãy Hàm Ninh. Ngoài ra còn có nhiều loại gỗ quý khác như mun, son, sến, trắc hay cẩm lai. Sự phân bố thực vật này không chỉ phản ánh điều kiện thổ nhưỡng và độ ẩm đặc biệt của đảo mà còn cho thấy Phú Quốc từng là một không gian rừng nhiệt đới rất giàu tài nguyên gỗ trong lịch sử.

Được bao bọc bởi núi, rừng và hệ sinh thái biển đa dạng, Phú Quốc đồng thời sở hữu nguồn tài nguyên động vật phong phú. Trong các khu rừng nguyên sinh trên đảo có thể bắt gặp nhiều loài như heo rừng, khỉ, sóc, trăn cùng hệ chim nhiệt đới đa dạng. Chính sự hiện diện đồng thời của rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn, hệ suối và biển đảo đã tạo cho Phú Quốc một môi trường sinh thái có tính liên kết rất cao giữa núi – rừng – nước – biển. Điều này không chỉ làm nên sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên mà còn góp phần hình thành nên “khí” riêng của đảo: một không gian vừa mang tính núi rừng, vừa mang tính hải đảo nhiệt đới, nơi thiên nhiên từ lâu đã đóng vai trò nền tảng trong đời sống kinh tế, văn hóa và cảm thức sinh tồn của cư dân Phú Quốc.

Khí hậu – Thủy văn

Về khí hậu, Phú Quốc mang những đặc điểm chung của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa thuộc phía Nam bán đảo Đông Dương, với hai mùa tương đối rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ khoảng tháng 5 đến tháng 10 hoặc 11, và mùa khô từ khoảng tháng 10 đến tháng 4 hoặc 5 năm sau. Đảo đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai hệ thống gió mùa lớn trong khu vực: gió mùa Đông Bắc hoạt động chủ yếu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và gió mùa Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 9. Tuy nhiên, do cấu trúc địa hình đặc biệt với hệ núi chạy dọc theo trục Bắc – Nam cùng độ ẩm cao của môi trường biển đảo, khí hậu Phú Quốc không hoàn toàn giống với khí hậu ở đất liền vùng Nam Bộ, mà hình thành nên một tiểu khí hậu mang tính hải đảo khá rõ nét.

Điểm khác biệt dễ nhận thấy nhất là mùa khô ở Phú Quốc thường ngắn và không quá khắc nghiệt, trong khi mùa mưa kéo dài hơn so với nhiều khu vực lân cận. Mưa trên đảo thường bắt đầu sớm và kéo dài từ khoảng tháng 5 đến tận tháng 11, với lượng mưa tập trung mạnh vào các tháng giữa mùa, đặc biệt là tháng 7. Do tác động của địa hình núi và hướng gió mùa, lượng mưa phân bố trên đảo cũng không đồng đều. Khu vực bờ biển phía Tây thường có lượng mưa lớn hơn phía Đông, bởi đây là nơi trực tiếp đón gió mùa Tây Nam mang theo hơi ẩm từ biển thổi vào. Trong khi đó, phía Đông đảo, đặc biệt quanh vùng Hàm Ninh, thường khô ráo hơn trong cùng thời điểm do nằm ở sườn khuất gió của dãy núi trung tâm.

Chính chế độ khí hậu và thủy văn này đã góp phần tạo nên hệ sinh thái rất riêng của Phú Quốc. Độ ẩm cao, lượng mưa lớn cùng mạng lưới suối và mạch nước ngầm bắt nguồn từ dãy núi Hàm Ninh khiến đảo luôn duy trì được độ xanh dày đặc của rừng nhiệt đới. Đồng thời, khí hậu biển với sự luân chuyển liên tục của gió mùa cũng ảnh hưởng sâu sắc đến nhịp sống cư dân đảo, từ mùa đánh bắt hải sản, mùa canh tác cho đến cấu trúc cư trú và giao thương ven biển. Có thể nói, ở Phú Quốc, khí hậu không chỉ là yếu tố tự nhiên đơn thuần mà còn là một phần cấu thành nên “nhịp thở” của đảo, nơi núi, rừng, mưa, gió và biển cùng tạo nên một không gian sinh thái mang tính chuyển động nhưng vẫn giữ được sự cân bằng đặc trưng của vùng biển Tây Nam.

Tín ngưỡng

Đời sống tín ngưỡng ở Phú Quốc không mang tính hệ thống hóa chặt chẽ như nhiều trung tâm tôn giáo lớn ở đất liền, mà hình thành chủ yếu từ cảm nhận, kinh nghiệm sống và sự thích nghi của cư dân trước môi trường biển đảo nhiều biến động. Trong một không gian mà thiên nhiên luôn hiện diện với sức mạnh khó lường, nơi biển có thể đổi hướng rất nhanh, thời tiết thay đổi bất định và đời sống ngư dân phụ thuộc trực tiếp vào sóng gió, tín ngưỡng trở thành một cách con người giao tiếp với môi trường sống, đồng thời tạo nên cảm giác được che chở trước sự vô thường của biển cả. Vì vậy, tín ngưỡng trên đảo không chỉ là nhu cầu tâm linh, mà còn phản ánh tâm thế sinh tồn của cộng đồng cư dân biển Tây Nam.

Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của quá trình thích nghi ấy là tín ngưỡng thờ nữ thần biển, mà cư dân đảo quen gọi giản dị là “Bà”, còn nơi thờ tự được gọi là Dinh Bà. Phần lớn người đi lễ tại các Dinh Bà ở Phú Quốc là ngư dân, những người sống trực tiếp bằng biển và luôn đối diện với rủi ro từ thiên nhiên. Hiện trên đảo có bốn Dinh Bà chính gồm Dinh Bà Dương Đông, Dinh Bà Ông Lang, Dinh Bà Hàm Ninh và Dinh Bà Cửa Cạn. Các cơ sở thờ tự này phân bố tại những vùng dân cư và làng chài quan trọng trên đảo, cho thấy tín ngưỡng thờ Bà gắn rất chặt với đời sống cộng đồng ven biển.

Dinh Bà Dương Đông nằm dưới chân Dinh Cậu và hướng mặt ra biển. Ngoài việc thờ Thủy Long Thánh Mẫu, nơi đây còn thờ Tiền hiền và Hậu hiền, phản ánh sự kết hợp giữa tín ngưỡng biển với truyền thống thờ những người có công khai phá vùng đất. Cấu trúc điện thờ của Dinh Bà cũng cho thấy ảnh hưởng của tín ngưỡng Tứ phủ khi phía trên thờ Mẫu và phía dưới là một khám nhỏ. Trong khi đó, Dinh Bà Ông Lang ở xã Cửa Dương lại gắn với truyền thuyết về bà Lê Kim Định, còn gọi là Bà Tướng Lớn, được cho là vợ của anh hùng Nguyễn Trung Trực. Dù nằm trong khuôn viên khá rộng, nơi đây chỉ có một gian thờ nhỏ, phản ánh nét đặc trưng của tín ngưỡng dân gian biển đảo: không quá chú trọng quy mô kiến trúc mà đặt trọng tâm vào sự linh thiêng và niềm tin cộng đồng.

Dinh Bà Hàm Ninh lại cho thấy rõ hơn sự hòa trộn giữa nhiều lớp tín ngưỡng khác nhau. Theo cư dân địa phương, Dinh Bà trước đây nằm sát biển nhưng đã phải dời vào sâu trong đất liền do sạt lở. Khu thờ tự gồm hai gian chính: Dinh Ông Nam Hải và Dinh Bà Thủy. Trong Dinh Ông Nam Hải hiện còn lưu giữ bộ xương Cá Ông, phản ánh tín ngưỡng thờ cá voi phổ biến của cư dân ven biển miền Trung và Nam Bộ. Dinh Bà Thủy có tượng Bà cùng các mô hình thuyền gỗ và sản vật biển, cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa thần linh và đời sống ngư dân. Theo nghiên cứu của Trần Thị An đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2014, Thủy Long Thánh Mẫu tại đây được xem là Thiên Ya Na được rước từ Khánh Hòa vào thờ. Điều này phản ánh sự giao thoa văn hóa biển giữa miền Trung và vùng biển Tây Nam trong quá trình cư dân di cư khai phá đảo.

Khác với các Dinh Bà ven biển, Dinh Bà Cửa Cạn nằm bên hữu ngạn sông Cửa Cạn và thờ bà Kim Giao, một phụ nữ thuộc dòng dõi Hoàng gia Campuchia từng lánh nạn và tham gia khai khẩn đảo Phú Quốc. Tín ngưỡng này cho thấy Phú Quốc từ lâu đã là không gian giao thoa của nhiều cộng đồng cư dân trong vùng vịnh Thái Lan, chứ không chỉ là một đảo biệt lập của người Việt.

Bên cạnh tín ngưỡng dân gian, Phật giáo cũng hiện diện khá sớm trên đảo với nhiều ngôi chùa cổ như Chùa Sùng Hưng, chùa Sùng Đức hay chùa Sư Muôn. Gần đây hơn là Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc được xây dựng từ năm 2011 trong quần thể Thiền viện Trúc Lâm. Tuy nhiên, Phật giáo ở Phú Quốc thường không tồn tại như một hệ thống giáo lý tách biệt mà hòa quyện với tín ngưỡng dân gian địa phương như cầu an, cầu biển, cúng sao hay thờ thần bản địa. Điều này phản ánh đặc điểm chung của đời sống tâm linh Nam Bộ: mềm mại, dung hợp và ít ranh giới cứng giữa tôn giáo với tín ngưỡng dân gian.

Ngoài ra, Phú Quốc còn được xem là một trong những nơi phát tích của Đạo Cao Đài. Hiện nay trên đảo có hai Thánh thất Cao Đài tại Dương Đông, thuộc các hệ phái khác nhau. Bên cạnh đó, Công giáo cũng từng hiện diện từ khá sớm. Khoảng những năm 1930, một số giáo dân miền Bắc vào đảo làm đồn điền cao su gần Bãi Khem và dựng nên những nhà nguyện đầu tiên. Sau năm 1954, khoảng một nghìn giáo dân từ Nghệ An tiếp tục di cư ra đảo dưới sự dẫn dắt của linh mục Giuse Trần Đình Lữ, từ đó hình thành nên Nhà thờ An Thới vào năm 1957. Sự hiện diện của nhiều hình thức tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau cho thấy đời sống tâm linh ở Phú Quốc mang tính giao thoa rất rõ: vừa gắn với biển, với lịch sử khai phá, vừa phản ánh quá trình di cư và gặp gỡ của nhiều cộng đồng cư dân trong không gian biển đảo Tây Nam.

Phương tiện di chuyển quanh đảo

Xét về hạ tầng giao thông công cộng, Phú Quốc hiện vẫn chưa hình thành được mô hình “xe buýt dân sinh” theo nghĩa của một đô thị truyền thống. Trên đảo chưa có mạng lưới giao thông công cộng phủ rộng để phục vụ trực tiếp cho đời sống thường nhật của cư dân như kết nối chợ xã, trường học, bệnh viện, làng chài hay các khu dân cư địa phương. Thay vào đó, phần lớn hệ thống xe buýt hiện nay được tổ chức theo trục: sân bay → khu nghỉ dưỡng → khu phức hợp giải trí. Điều này phản ánh rất rõ định hướng phát triển của đảo trong giai đoạn hiện nay: du lịch đi trước, còn hạ tầng dân sinh đi sau. Ở một góc độ nào đó, đây không chỉ là câu chuyện giao thông, mà còn là bài toán phát triển dài hạn của Phú Quốc nếu hòn đảo muốn chuyển từ mô hình “điểm đến nghỉ dưỡng” sang một cộng đồng đảo có khả năng vận hành bền vững cho cả cư dân lẫn du khách.

Hiện nay, hệ thống giao thông công cộng rõ nét nhất trên đảo là VinBus tại khu vực Bắc đảo. Các tuyến VinBus kết nối nhiều điểm du lịch và lưu trú quan trọng như sân bay Phú Quốc, Dương Đông, Bãi Trường, Ông Lang, Cửa Cạn, Grand World Phú Quốc, khu Vin Bắc đảo và cảng Bãi Vòng. Theo thông tin cập nhật năm 2026, từ ngày 1/1/2026 các tuyến 17, 19 và 20 bắt đầu áp dụng thu phí sau thời gian dài vận hành miễn phí. Bên cạnh các tuyến liên kết chính, Bắc đảo còn có hệ thống shuttle bus nội khu phục vụ kết nối giữa Grand World, VinWonders Phú Quốc, Vinpearl Safari Phú Quốc, các resort, bãi biển và khu vui chơi. Điều này khiến Bắc đảo hiện nay trở thành khu vực có hệ thống giao thông công cộng hoàn thiện nhất đảo, dù mục tiêu chính vẫn phục vụ hệ sinh thái du lịch và nghỉ dưỡng.

Ở phía Nam, mô hình giao thông có phần khác biệt. Dù chưa có mạng lưới xe buýt công cộng quy mô lớn như VinBus, hệ sinh thái của Sun Group vẫn vận hành các tuyến shuttle riêng phục vụ du khách di chuyển giữa Sunset Town, ga cáp treo, khách sạn trong hệ Sun và bến tàu Hòn Thơm. Tuy nhiên, đây chủ yếu vẫn là các tuyến trung chuyển nội bộ dành cho khách du lịch, chứ chưa phải hệ thống giao thông công cộng mang tính đại chúng phục vụ cư dân địa phương. Có thể thấy rõ rằng cấu trúc giao thông ở Nam đảo được tổ chức xoay quanh các điểm đến du lịch và trải nghiệm giải trí hơn là nhu cầu đi lại hằng ngày của cộng đồng cư dân.

Ngoài các tuyến bus cố định, Phú Quốc hiện có rất nhiều hình thức trung chuyển khác như xe shuttle của resort, xe tour ghép, airport shuttle hay harbor shuttle kết nối cảng tàu và sân bay. Phần lớn các loại hình này hoạt động dựa trên booking, giờ tàu hoặc giờ bay, cho thấy nhịp vận hành giao thông trên đảo hiện vẫn gắn chặt với dòng chảy du lịch. Điều đó phản ánh khá rõ thực trạng phát triển của Phú Quốc hôm nay: một hòn đảo mà hạ tầng di chuyển đang được thiết kế trước hết cho trải nghiệm của du khách, trong khi nhu cầu di chuyển thường nhật của cư dân bản địa vẫn chưa thực sự trở thành trung tâm của quy hoạch giao thông công cộng.

Quá trình hình thành cộng đồng dân cư

Khác với nhiều vùng đất khác ở phía Nam Việt Nam, quá trình hình thành cộng đồng cư dân tại Phú Quốc trước hết không diễn ra theo mô hình khai khẩn có tổ chức hay các đợt di dân quy mô lớn từ triều đình, mà bắt đầu bằng những dòng dịch chuyển tự nhiên của cư dân ven biển. Nằm trên tuyến hải trình kết nối lục địa Đông Dương với các nước trong vùng vịnh Thái Lan, đồng thời sở hữu vị trí kín gió và thuận lợi cho việc neo đậu thuyền bè khi mưa bão, Phú Quốc từ rất sớm đã trở thành nơi dừng chân của nhiều nhóm cư dân đi biển. Trong số đó, phần lớn là những ngư dân Việt từ miền Trung xuôi ghe vào Nam, gặp vùng biển giàu sản vật nên dần ở lại sinh sống và hình thành các cộng đồng ven biển đầu tiên. Chính điều này khiến lịch sử cư trú ở Phú Quốc mang màu sắc của một quá trình “bám biển để tồn tại” nhiều hơn là một cuộc mở đất nông nghiệp theo kiểu truyền thống ở đồng bằng Nam Bộ.

Mặc dù trên đảo từng phát hiện các hiện vật có niên đại từ thời Văn hóa Óc Eo, cho thấy dấu vết cư trú rất sớm của con người, nhưng những nỗ lực định cư lâu dài của cư dân Khmer và Chăm nhìn chung đều không thành công. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ điều kiện tự nhiên của đảo. Đất ở Phú Quốc phần lớn là đất cát phong hóa từ sa thạch, nghèo phù sa và không phù hợp cho việc canh tác lúa nước, nền tảng sinh tồn quan trọng của nhiều cộng đồng cư dân Đông Nam Á thời kỳ đó. Điều này khiến những mô hình cư trú nông nghiệp ổn định khó có thể duy trì lâu dài trên đảo. Có thể nói, cấu trúc địa chất và điều kiện sinh thái của Phú Quốc ngay từ đầu đã định hướng hòn đảo này nghiêng nhiều hơn về kinh tế biển thay vì kinh tế nông nghiệp.

Bên cạnh khó khăn về đất đai, Phú Quốc trong lịch sử còn phải đối mặt với tình trạng bất ổn kéo dài do cướp biển hoành hành. Nằm giữa vùng biển có nhiều đảo đá nhỏ và vũng kín gió, những nơi lý tưởng cho tàu thuyền ẩn náu, nhưng lại thiếu sự kiểm soát quân sự mạnh mẽ trong thời gian dài, đảo thường xuyên trở thành mục tiêu hoặc nơi trú ẩn của các nhóm hải tặc. Chính điều đó khiến những cộng đồng định cư ven biển rất khó duy trì ổn định qua nhiều thế hệ. Trong một không gian mà thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai khó canh tác và an ninh biển luôn bất định, việc tồn tại lâu dài trên đảo đòi hỏi cư dân phải có khả năng thích nghi rất cao với môi trường biển đảo.

Trong ký ức dân gian của Phú Quốc, quá trình hình thành cộng đồng cư dân còn được phản ánh qua nhiều truyền thuyết địa phương, tiêu biểu là câu chuyện về bà Kim Giao. Truyền thuyết này không chỉ lý giải sự xuất hiện của đàn trâu rừng trên đảo mà còn phản ánh ký ức về những cộng đồng cư trú sớm tại vùng Cửa Cạn ngày nay. Theo truyền thuyết, bà Kim Giao là một phụ nữ Campuchia đã dẫn theo người Việt và Khmer ra đảo để trồng lúa, nuôi trâu và khai khẩn đất đai. Trước khi qua đời, bà yêu cầu những người đi theo rời khỏi đảo và thả đàn trâu vào rừng. Nhiều thập niên sau, các nhóm cư dân Việt mới đến phát hiện dấu tích của một khu định cư bị bỏ hoang với ruộng cũ, hàng mía và những cột chuồng trâu hóa đá nằm sâu trong rừng, nơi khi ấy đã trở thành môi trường sinh sống của những đàn trâu rừng lớn. Dù mang màu sắc huyền thoại, câu chuyện về bà Kim Giao cho thấy quá trình cư trú ở Phú Quốc không chỉ được hình thành từ lịch sử chính thống, mà còn từ ký ức tập thể của cư dân biển đảo, nơi ranh giới giữa lịch sử, thiên nhiên và truyền thuyết nhiều khi hòa lẫn vào nhau.

Họ Mạc khai phá đất Hà Tiên – Phú Quốc và sự thiết lập chế độ cai trị của chúa Nguyễn đối với vùng đất mới

Khi tìm hiểu về lịch sử Phú Quốc, có một nhân vật khiến mình đặc biệt chú ý và dành khá nhiều thời gian để nghiên cứu: Mạc Cửu. Giữa thế kỷ 17, trong bối cảnh biến động lớn của Trung Hoa sau sự sụp đổ của nhà Minh, Mạc Cửu, người gốc Lôi Châu, Quảng Đông, đã mang theo gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu rời khỏi Phúc Kiến xuôi về phương Nam. Điều đáng chú ý là ông không xuất hiện như một người tị nạn đơn thuần, mà thuộc về lớp cư dân ven biển Nam Trung Hoa vốn có truyền thống thương mại hàng hải và di cư xuống Đông Nam Á. Các cộng đồng Quảng Đông – Phúc Kiến thời bấy giờ nổi tiếng với khả năng đi biển, lập thương cảng và hình thành mạng lưới Hoa kiều trải rộng khắp khu vực. Vì vậy, ngay từ đầu, Mạc Cửu đã thuộc về thế giới biển nhiều hơn là thế giới nông nghiệp nội địa. Ông mang theo không chỉ con người mà còn cả kinh nghiệm thương mại, năng lực tổ chức và các mạng lưới giao thương liên vùng, những yếu tố đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Đông Nam Á thế kỷ 17-18.

Trong giai đoạn đầu, Mạc Cửu xin vào cư trú trên đất Chân Lạp và được vua Khmer trọng dụng, phong chức Ốc nha, để cai quản vùng Sài Mạt. Xuất thân từ môi trường thương nghiệp, ông nhanh chóng nhận ra tiềm năng của vùng đất này, nơi tập trung đông người qua lại và nhiều hoạt động buôn bán. Ông xin thầu thu thuế hoa chi và tổ chức các cơ sở giao thương, từ đó nhanh chóng trở nên giàu có. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 17, khi Xiêm liên tục uy hiếp Chân Lạp, tình hình chính trị trở nên bất ổn. Mạc Cửu đưa gia quyến rời khỏi vùng cũ, tiến về Long Kỳ rồi tiếp tục mở rộng khai phá các vùng đất phương Nam cho tới Cà Mau. Sau khi nhận thấy Long Kỳ không còn đủ khả năng chứa dân cư ngày càng đông, ông chuyển trung tâm về vùng Cần Cao, tiền thân của Hà Tiên sau này.

Tại đây, Mạc Cửu bắt đầu chiêu mộ dân Việt phiêu tán từ nhiều nơi như Phú Quốc, Long Kỳ, Cần Vọt, Hương Úc, Rạch Giá hay Cà Mau đến khai phá ruộng vườn, lập làng và xây dựng các cộng đồng cư trú ven biển. Các thôn ấp được bố trí sát mép biển hoặc dọc theo các con sông lớn như Giang Thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào hay Ông Đốc nhằm thuận lợi cho ghe thuyền qua lại và canh tác. Điều đáng chú ý là sự phát triển của Hà Tiên – Phú Quốc thời kỳ này không dựa trên nền nông nghiệp lớn như đồng bằng Nam Bộ, mà chủ yếu dựa vào giao thương biển, trung chuyển hàng hóa, thu thuế và khai thác đặc sản địa phương. Trong bối cảnh thương mại hàng hải phụ thuộc mạnh vào gió mùa, hải lưu, nơi trú bão và nguồn nước ngọt, Mạc Cửu cho thấy khả năng lựa chọn vị trí chiến lược rất sắc bén. Hà Tiên – Phú Quốc nằm trên tuyến biển kết nối Campuchia, Xiêm và Nam Bộ; có đảo trú ghe, nguồn cá dồi dào, rừng và nước ngọt, tất cả đều là điều kiện lý tưởng để hình thành một thương cảng biển.

Chính nhờ chính sách tương đối cởi mở, đặc biệt là chủ trương không thu thuế mà chỉ thu lợi thông qua hoạt động thương mại, vùng Mang Khảm do Mạc Cửu xây dựng nhanh chóng trở nên phồn thịnh. Bảy trung tâm đông dân gồm Hà Tiên, Phú Quốc, Long Kỳ, Cần Vọt, Vũng Thom, Rạch Giá và Cà Mau hình thành nên một mạng lưới giao thương biển năng động của vùng vịnh Thái Lan. Trong đó, Phú Quốc giữ vị trí chiến lược đặc biệt. Từ một hòn đảo hoang sơ, nơi đây dần trở thành thương cảng thu hút người Việt, Hoa, Chà Và cùng nhiều thương nhân Đông Nam Á khác. Cũng trong giai đoạn này, đảo Koh Tral được đổi tên thành Phú Quốc tức “vùng đất giàu có”. Sử sách ghi lại rằng Phú Quốc thời ấy “đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, là nơi giao thương của người Việt, Hoa, Chà Và…”. Sự trù phú ấy tiếp tục thu hút những dòng dân phiêu tán khắp nơi đến lập nghiệp, biến Hà Tiên – Phú Quốc thành một trong những thương cảng quan trọng của Đông Nam Á lục địa.

Nhiều ghi chép của thương nhân phương Tây cũng phản ánh sự hưng thịnh này. Pierre Poivre từng mô tả Hà Tiên là “xứ sở của những người siêng năng”, nơi hải cảng mở rộng cho tàu buôn khắp nơi, ruộng đồng phì nhiêu và kênh rạch chằng chịt. Các mặt hàng giao thương tại đây rất đa dạng, từ vải lụa, mai, đồi mồi, sáp ong, mật ong cho tới hồ tiêu, yến sào, hải sâm, bóng cá, vây cá và nước mắm. Điều đó cho thấy Hà Tiên – Phú Quốc thời bấy giờ không chỉ là một vùng biên viễn xa xôi, mà đã thực sự trở thành một trung tâm thương mại biển quan trọng của khu vực.

Một trong những điểm nổi bật nhất ở Mạc Cửu là khả năng tồn tại và thương lượng giữa nhiều nền văn hóa khác nhau. Ông có thể làm việc với người Khmer, thương lượng với Xiêm, kết nối cộng đồng Hoa kiều rồi cuối cùng quy phục chúa Nguyễn. Năm 1708, trước tình trạng Chân Lạp rối ren và Xiêm liên tục uy hiếp, Mạc Cửu quyết định dâng toàn bộ vùng Mang Khảm cho chúa Nguyễn Phúc Chu để xin bảo hộ. Được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, ông chính thức đưa vùng đất này vào lãnh thổ Đại Việt. Đây là bước ngoặt lớn trong lịch sử mở cõi phương Nam, đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của miền Tây Nam Bộ. Sau khi Mạc Cửu qua đời năm 1735, con trai ông là Mạc Thiên Tích tiếp tục mở rộng lãnh thổ, củng cố Hà Tiên và góp phần hoàn thiện bản đồ vùng Tây Nam dưới quyền chúa Nguyễn:

  • Năm 1739, thành lập 4 huyện mới: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Bạc Liêu).  
  • Năm 1755, nhận đất từ vua Chân Lạp Nặc Nguyên, sáp nhập vùng Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên).  
  • Năm 1758, sau khi giúp Nặc Tôn lên ngôi, ông được tặng 5 phủ miền Đông Nam Chân Lạp, mở rộng địa giới đến tận Châu Đốc.  

Nhờ những đóng góp trong việc khai phá và ổn định vùng đất Hà Tiên – Phú Quốc, dòng họ Mạc Cửu được chúa Nguyễn phong tước Vương tôn và trao quyền đời đời trấn giữ Hà Tiên. Đây không chỉ là sự ghi nhận công lao của một cá nhân, mà còn phản ánh vai trò đặc biệt của họ Mạc trong quá trình xác lập chủ quyền và mở rộng không gian sinh tồn của Đại Việt ở vùng biển Tây Nam. Sử gia Lê Văn Lan từng nhận định rằng Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích “đã biến vùng đất chết thành vùng đất sống, đặt nền móng cho sự thống nhất lãnh thổ”. Nhận xét ấy cho thấy công lao của họ Mạc không chỉ nằm ở việc khai khẩn đất đai, mà còn ở khả năng biến một vùng biên viễn nhiều bất ổn thành một không gian giao thương và cư trú có vai trò chiến lược trong khu vực Đông Nam Á.

Ngày nay, dấu tích về dòng họ Mạc vẫn còn hiện diện khá rõ tại Hà Tiên qua khu đền thờ và lăng mộ trên triền núi Bình San. Đền thờ này còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Trung Nghĩa từ, Mạc Công từ hay Mạc Công miếu, trong khi dân gian quen gọi là miếu Ông Lịnh do Mạc Thiên Tứ từng được tôn xưng là Mạc Lịnh Công. Không gian ấy không chỉ là nơi thờ tự tổ tiên của một dòng họ, mà còn là ký ức lịch sử về những con người đã góp phần hình thành nên vùng đất Hà Tiên – Phú Quốc ngày nay. Điều đáng chú ý là hiện không có tư liệu nào cho thấy họ Mạc của Mạc Cửu là một đại gia tộc quan lại quyền quý ở Trung Hoa. Tuy nhiên, gần như có thể khẳng định gia đình Mạc Cửu thuộc tầng lớp có học, có quan hệ thương mại và sở hữu tiềm lực tài chính nhất định. Bởi lẽ, rất khó để một người bình dân hoàn toàn có thể tổ chức tàu biển, dẫn theo cộng đồng di cư, xây dựng thương cảng và điều hành một mạng lưới giao thương lớn trong bối cảnh Đông Nam Á thế kỷ 17-18. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn nếu đặt Mạc Cửu vào bối cảnh của vùng Hà Tiên – Phú Quốc thời kỳ ấy: một không gian biên viễn đa sắc tộc, chưa ổn định, vừa đầy cơ hội thương mại vừa tiềm ẩn nhiều hiểm nguy. Trong môi trường như vậy, một quan lại Nho giáo thuần túy có thể khó thích nghi và dễ thất bại. Trong khi đó, Mạc Cửu lại là kiểu con người quen với biển cả, quen di cư, quen thương lượng và có khả năng sống trong những môi trường linh hoạt. Nếu nhìn rộng hơn, ông không chỉ thuộc lịch sử Việt Nam hay lịch sử Trung Hoa, mà còn là sản phẩm của mạng lưới biển Đông Nam Á trong thế kỷ 17-18, một thế giới mà biên giới còn mềm, tàu biển kết nối các cộng đồng, người Hoa di cư trải rộng khắp khu vực và thương mại có thể tạo ra quyền lực nhanh hơn huyết thống quý tộc. Có lẽ chính vì vậy mà một người di cư từ Quảng Đông lại có thể trở thành người đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của Hà Tiên – Phú Quốc trong lịch sử vùng biển Tây Nam.

Phú Quốc sau thế kỷ 19

Bước sang thế kỷ 19, triều nhà Nguyễn ngày càng nhận thức rõ vị trí chiến lược của Phú Quốc đối với an ninh và chủ quyền vùng biển Tây Nam. Trong bối cảnh vùng đất này nằm trên tuyến giao thương quan trọng của vịnh Thái Lan, đồng thời giữ vai trò như tiền đồn án ngữ cực Nam của lãnh thổ, nhà Nguyễn đã triển khai nhiều chính sách nhằm khuyến khích lưu dân từ các nơi đến khai phá, lập làng và tổ chức lực lượng binh bị để canh phòng biển đảo. Những chính sách ấy cho thấy Phú Quốc không còn được nhìn như một hòn đảo hoang sơ biệt lập, mà đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược mở rộng và bảo vệ không gian lãnh thổ của quốc gia.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chế độ phong kiến Việt Nam dần bước vào thời kỳ suy thoái, các chính sách của triều Nguyễn không còn đủ khả năng duy trì sự ổn định lâu dài cho một vùng đảo xa đất liền như Phú Quốc. Khoảng cách địa lý, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt cùng sự hạn chế về năng lực quản lý và quân sự khiến việc kiểm soát vùng biển này trở nên ngày càng khó khăn. Đặc biệt từ thời Minh Mạng (1820-1841), Phú Quốc thường xuyên bị quân Xiêm quấy phá, trong khi nạn hải tặc hoành hành trên khắp vùng vịnh Thái Lan. Có thời điểm, các nhóm cướp biển thậm chí còn đặt căn cứ trực tiếp trên đảo, biến Phú Quốc thành một không gian đầy bất ổn và nguy hiểm đối với cư dân sinh sống tại đây.

Trong hoàn cảnh ấy, đời sống cư dân trên đảo dần suy giảm. Những cộng đồng vốn hình thành nhờ nghề biển và giao thương bắt đầu tan rã trước áp lực chiến tranh, cướp biển và sự thiếu vắng một cơ chế bảo vệ hiệu quả từ triều đình. Từ nửa sau thế kỷ 19, Phú Quốc rơi vào tình trạng gần như hoang vắng, nhiều khu dân cư bị bỏ hoang và dấu vết cư trú trên đảo dần trở nên thưa thớt. Có thể nói, giai đoạn này phản ánh rất rõ tính chất mong manh của các cộng đồng biển đảo trong lịch sử: khi thương mại suy yếu, an ninh biển mất ổn định và quyền lực trung ương không còn đủ sức bao phủ, những vùng đất từng phồn thịnh như Phú Quốc cũng có thể nhanh chóng trở lại trạng thái cô lập và hoang sơ. Ngoại trừ đảo Phú Dự, theo báo cáo viết tay của Thanh tra Hà Tiên tựa đề: “Cochinchine Inspection d’ An Biên”, tháng 9-1869 gửi Giám đốc Nội vụ Nam Kỳ (Directeur de l’ Intérieur – Cochinchine) cho biết:

“Trước khi người Pháp chiếm đảo, những đảo ấy (đảo Phú Dự – TG) ở vào giữa đảo Phú Quốc và lục địa Cao Miên, trước đây vẫn là lãnh thổ An Nam do một vị quan ở Hà Tiên cai trị. Hình như bây giờ, dân cư rất đông đảo. Họ sanh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới và buôn bán rất thành đạt, một mặt với chánh phủ Xiêm La, để bán mắm ruốc (một thứ mắm tép), mặt khác với Hà Tiên để tải đến đó những sò, ốc (dùng làm vôi) và những dây mây”.

Thế kỷ 19, thực dân Pháp đã tổ chức nhiều đợt khảo sát, thử nghiệm trồng cây cao su và mộ phu từ nhiều nơi tới, nhưng không đạt được hiệu quả. Việc khai thác tài nguyên trên đảo, chủ yếu vẫn do các tư bản Pháp tự tổ chức.

A. Bouinais và A. Paulus, trong tác phẩm viết về Nam kỳ năm 1884, đã miêu tả Phú Quốc như một hoang đảo đang dần hồi sinh. Phần lớn đảo vẫn bị hoang hóa, chỉ có khoảng 1.000 dân, cư ngụ tập trung ở thủ phủ Dương Đông với các nghề chài lưới, làm mắm và săn bắn. Sự phát triển rõ rệt được thấy là ở một đồn điền của tư bản Pháp. “Một khu nông nghiệp được thiết lập trên đảo: cây dừa, cau, hồ tiêu được trồng rất năng suất và cây va ni đã mang lại vụ mùa đầu tiên bội thu trong đó nhiều mẫu có mặt trong số các sản phẩm của thuộc địa Pháp được gửi đến triển lãm toàn cầu ở Amxtécđam”.

Le Dr J.C.Baurac, năm 1894, đã miêu tả thủ phủ Dương Đông còn nguyên nét đẹp hoang sơ:

“Dương Đông được biết đến qua sự tích hòn đá đen nằm ngay lối vào con sông, trên một bãi cát trắng và thấy được nó khi nhìn thấy những cây phi lao lớn ngay từ đằng xa. Phía sau hòn đá là ba hay bốn đồi rừng, xa hơn là những cao nguyên của sườn núi phía Đông. Nhìn chung, ngôi làng ở đây có được quang cảnh dễ chịu, những lều tranh trong làng thì nằm khuất sâu trong các bãi cây dừa.

Dương Đông là thủ phủ chính của hòn đảo; dân số khoảng 1.000 dân. Những người An Nam thì không có ý định xây nhà trên bãi cát biển mà chủ yếu nhà của họ được xây trên các bờ rạch (hay ở ven sông), ngay ở cồn cát đầu tiên.

Đặc sản của vùng chủ yếu là nước mắm. Nước mắm Phú Quốc rất nổi tiếng. Người ta chuẩn bị thành chồng đống, đựng trong các hũ lớn, cá làm mắm có tên là cá cơm, được ướp muối; trong những ngày đầu, cá cơm sẽ lên men, từ đó sẽ cho một loại dung dịch vàng vàng và đục, và mùi rất nồng, rồi người ta sẽ đặt hũ cá cơm này ở ngoài trời có nắng; trong 15 ngày sau, người ta sẽ có một loại nước mắm sạch, gần như không có mùi. Nó sẽ được dùng rất lâu. Việc đánh bắt cá diễn ra trong gió mùa Đông Bắc.

Ngoài nước mắm, người dân Phú Quốc còn bán cá muối và rùa bắt được ở chân núi; người dân còn thu hoạch nhựa và dầu (dầu thực vật) trong rừng. Cuối cùng, họ còn đi săn thú trong rừng như nai và lợn rừng, với số lượng thú dồi dào. Có nhiều trâu bò hoang dã”.

Đến những thập niên đầu thế kỷ 20, sau mấy chục năm hoang tàn, Phú Quốc mới bắt đầu hồi sinh, dân cư tụ hội về, ruộng vườn hình thành trở lại. Nghề làm nước mắm được khôi phục và ngày càng phát triển, thu hút nhiều thương lái khắp vùng đến buôn bán.

Báo cáo của phái đoàn thanh tra Pháp năm 1942 cho thấy phần nào bức tranh ảm đạm về cuộc sống của nhân dân đảo trong những năm Pháp thuộc.

“Người Tàu và người Minh Hương buôn bán và làm nông. Họ sở hữu phần lớn các vườn hồ tiêu và chỉ thuê lao động đồng hương. Trên các đồn điền cao su, trừ đồn điền của Grandjean ở Cây Dừa (nay là khu nhà tù Phú Quốc), phần lớn culi là người Tàu. Những culi này, đa số đến đảo để lánh nạn, sống biệt lập trên các vườn hồ tiêu và đồn điền. Họ ít gây sự với người bản địa. Đó là những lao động tốt, nhưng khó sai bảo và ít ổn định”.

“Những người An Nam, là những người đánh cá. Ngoài ra, họ còn chế tạo ra nước mắm, muối các loại cá và tôm. Đánh cá là một trò giải trí. Một mẻ lưới cho phép họ sống theo sở thích của mình trong vài ngày. Và lại, đó là một nghề vất vả nhưng có lời và hiệu quả tức thì”.

“Mật độ dân số không đồng (khoảng 1 người dân/10 km²) và phân bố không đồng đều. Dân số tập trung đa số ở Dương Đông và Cửa Cạn. Sống rải rác dọc tỉnh lộ Dương Dương – Hàm Ninh (nhất là ở hai đầu đường), đường đất Dương Dương – Gành Gió và Khu Tượng (đường vào các đồn điền). Ngoài ra, một số làng nằm rải rác ở bờ biển phía Tây (Dương Tơ – Bon Cui) và một số ngư dân gần mũi Tàu Ru ở phía Nam. Bờ biển phía Đông không có người. Ở Cây Dừa thuộc bờ biển phía Nam là đồn điền của Grandjean. Người dân ở đây hiếm khi coi nghề nông là nghề chính của họ. Ngay khi mùa đánh cá đến, phần lớn lao động thuê đã từ bỏ công việc sẵn có của mình để tham gia vào công việc đánh bắt”.

Năm 1964, vua Sihanouk của Campuchia tuyên bố chấp nhận đường Brevie từ thời thuộc địa là biên giới biển, đồng nghĩa với việc từ bỏ yêu sách của mình đối với Phú Quốc, công nhận Phú Quốc thuộc chủ quyền Việt Nam.

Năm 1975, Khmer Rouge tiến hành cuộc xâm lược đảo Thổ Chu (một hòn đảo thuộc quần đảo Phú Quốc) và tàn sát hơn 500 người Việt Nam. Từ đó đến nay, không còn tình trạng hỗn loạn nào xung quanh đảo Phú Quốc nữa.

Phú Quốc có gì?

Trầm hương

Khi nghĩ về Phú Quốc, phần lớn mọi người thường hình dung đến biển xanh, cát trắng, nước mắm, hồ tiêu hay những khu nghỉ dưỡng trải dài ven bờ. Nhưng trong hành trình tìm hiểu về hòn đảo này, điều khiến mình bất ngờ là trước đây Phú Quốc còn từng nổi tiếng với một thứ gần như đã biến mất khỏi ký ức phổ biến của nhiều người: trầm hương. Trước chuyến đi, mình hoàn toàn không biết rằng trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp từng gọi Phú Quốc là “vùng đất trầm hương”. Cái tên ấy không phải xuất hiện ngẫu nhiên, mà được hình thành từ những điều kiện tự nhiên rất đặc biệt của đảo.

Bản đồ các vườn trầm hương tại Phú Quốc. Nguồn: Sophia Ngô

Theo các ghi chép thời kỳ đó, trầm hương Phú Quốc được đánh giá cao nhờ sự hội tụ của ba yếu tố quan trọng: khí hậu nhiệt đới hải dương, nền đất có đặc điểm riêng và sự tồn tại của một giống cây tạo trầm mang đặc tính đặc biệt. Khác với vùng đồng bằng phù sa, Phú Quốc là một cấu trúc địa chất hình thành từ hệ núi cổ và đất cát phong hóa, đồng thời lại sở hữu độ ẩm rất lớn do ảnh hưởng của rừng nguyên sinh và khí hậu biển. Có lẽ chính sự kết hợp giữa núi, rừng, hơi nước và thổ nhưỡng ấy đã tạo ra môi trường thuận lợi để cây dó bầu phát triển và hình thành loại trầm được cho là quý hiếm hơn so với nhiều khu vực khác ở Nam Kỳ thời bấy giờ.

Điều thú vị là câu chuyện về trầm hương ở Phú Quốc không đi theo một đường thẳng liên tục. Nó giống như một ký ức từng rất rõ, rồi dần chìm xuống, trước khi bất ngờ được nhắc nhớ trở lại sau hàng trăm năm. Năm 1992, sư Thích Giác Nhi trong thời gian tu tập trên đảo đã thử nghiệm trồng cây dó bầu trong khuôn viên chùa. Sau đó, khi trở về đất liền và nuôi trầm thành công, sự kiện ấy khiến nhiều người bắt đầu nhìn lại khả năng tồn tại của loại cây này tại Phú Quốc, từ đó khơi lại sự quan tâm của nhiều thương nhân đối với loại gỗ đặc biệt này ở Phú Quốc. Đến năm 2019, việc người dân địa phương phát hiện một khu vực có nhiều cây dó bầu sau nhiều năm không hề hay biết giống như một sự tình cờ rất đặc biệt. Chính quyền địa phương cũng bắt đầu xem xét các kế hoạch bảo tồn và phục hồi thương hiệu trầm hương Phú Quốc sau gần hai thế kỷ chìm vào quên lãng. Theo thông tin từ báo Dân Trí, 10 ha cây dó bầu (hay còn gọi là cây trầm hương) tại Vườn quốc gia Phú Quốc thuộc nhóm cây có trong sách đỏ, được trồng bảo tồn năm 1987 và đang được bảo vệ nghiêm ngặt (khi search trên Google map, bạn sẽ thấy thông tin đóng cửa vĩnh viễn).

Mình nhận ra rằng đôi khi một vùng đất vẫn đang giữ lại những điều quý giá mà chính cư dân và du khách đi qua nó cũng chưa thật sự nhận ra. Trong lúc chạy xe vòng quanh đảo, mình gặp khá nhiều biển chỉ dẫn liên quan đến trầm hương nhưng không ghé vào. Thế nhưng thật tình cờ, tại một farm tiêu mình dừng chân nghỉ, mình lại được chạm tay vào vài cây dó bầu. Có những điều đôi khi không nằm trong kế hoạch tìm kiếm, nhưng lại tự nhiên xuất hiện trên đường đi như một cách để vùng đất kể câu chuyện của chính nó.

Chó Phú Quốc

Nếu trầm hương là một ký ức thực vật đặc biệt của Phú Quốc, thì chó Phú Quốc có lẽ là một ký ức đang chuyển động của hòn đảo này. Khi nhắc đến các giống chó quý trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến, người ta thường nhắc đến bốn giống nổi bật gồm chó Bắc Hà, chó H’Mông, chó Lài và chó Phú Quốc. Trong đó, chó Phú Quốc không chỉ được xem là giống chó quý của Việt Nam mà còn được xếp vào nhóm những giống chó hiếm trên thế giới.

Nguồn gốc của giống chó này từng tồn tại nhiều giả thuyết khác nhau. Có ý kiến cho rằng chúng có liên hệ với chó núi Thái Lan, một số khác lại cho rằng người Pháp đã đưa chúng đến đảo trong thời kỳ thuộc địa. Tuy nhiên, những nghiên cứu về động vật học và di truyền học sau này cho thấy nhiều bằng chứng nghiêng về khả năng đây là một giống chó bản địa đã tồn tại lâu đời trên đảo. Điều đó khiến chó Phú Quốc không đơn thuần là một giống vật nuôi, mà giống như một phần của hệ sinh tái tự nhiên nơi đây.

Chó Phú Quốc. Nguồn: Sophia Ngô

Điều thú vị hơn là quanh giống chó này tồn tại rất nhiều câu chuyện nằm ở ranh giới giữa thực tế và truyền thuyết. Người dân địa phương kể rằng trước khi các cộng đồng người Hoa di cư tới đây, chó núi Phú Quốc đã sinh sống dọc theo bờ biển và trong các khu rừng trên đảo. Chúng nổi tiếng vì khả năng săn mồi, thích nghi với môi trường tự nhiên và khá thân thiện với con người. Một số câu chuyện còn kể rằng chúng biết tìm lá thuốc chữa cho người bị rắn cắn hoặc dẫn đường cho người đi rừng bị lạc. Dù khó xác định đâu là sự thật tuyệt đối và đâu là phần được thêm vào bởi trí tưởng tượng dân gian, những câu chuyện ấy vẫn tiếp tục được truyền miệng cho đến ngày nay.

Bản thân mình cũng có một trải nghiệm khá lạ với những chú chó trên đảo. Dù không biết bơi nhưng chúng lại rất thích ra sát mép nước ngắm biển. Nhiều lần mình bước xuống gần bờ thì những chú chó Phú Quốc quanh đó bắt đầu sủa liên tục, thậm chí có con còn chạy tới gặm nhẹ vào ống quần như muốn kéo mình trở lại phía trong. Ban đầu mình chỉ nghĩ đó là sự trùng hợp, nhưng khi điều này lặp lại vài lần với kết quả tương tự, mình bắt đầu không còn dám tự ý đi một mình ra sát mép nước nữa. Có thể đó chỉ là phản xạ bảo vệ lãnh thổ, cũng có thể là điều gì khác mà con người chưa hiểu hết. Nhưng ở những vùng đất như Phú Quốc, đôi khi mình cảm thấy có những câu chuyện chưa cần phải chứng minh đúng hay sai hoàn toàn. Chỉ cần chúng khiến người ta cảm thấy giữa thiên nhiên và con người vẫn còn tồn tại một kiểu kết nối âm thầm nào đó, như thể hòn đảo này vẫn đang nhớ rất rõ những sinh vật đã cùng nó lớn lên qua thời gian.

Nước mắm Phú Quốc

Nước mắm không chỉ là một loại gia vị quen thuộc trong bữa ăn của người Việt mà còn là một phần ký ức văn hóa, phản ánh lịch sử sinh hoạt và cách con người thích nghi với biển cả. Theo những bản thảo được các học giả Pháp nghiên cứu trong thời kỳ Đông Dương, nước mắm từng được xem là gia vị thiết yếu của người An Nam. Đặc biệt, loại nước mắm có hàm lượng đạm cao của Phú Quốc từng được xem như một sản phẩm cao cấp, thường xuất hiện trong bữa ăn của tầng lớp địa chủ và quan lại người An Nam thời bấy giờ.

Trong một dịp đi tham quan hai công ty sản xuất nước mắm tại An Thới, mình được giới thiệu rất nhiều thông tin về nguyên liệu cũng như quy trình sản xuất nước mắm Phú Quốc.

Điều làm nên sự đặc biệt của nước mắm Phú Quốc nằm ở chỗ quy trình tạo ra nó gần như là một quá trình chuyển hóa giữa thiên nhiên và sự kiên nhẫn của con người. Cá cơm, đặc biệt là cá cơm sọc tiêu và cá cơm than, được xem là nguyên liệu quan trọng nhất bởi chúng cho hương vị đậm và ngọt hơn các loại khác. Nhưng nếu chỉ có cá thì chưa đủ. Muối dùng để làm nước mắm cũng phải trải qua một quá trình chọn lọc rất kỹ. Muối biển thường được lấy từ những vùng như Phú Hài của Phan Thiết hay khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu, nơi chất lượng hạt muối được đánh giá cao nhờ độ khô, độ sạch và tỷ lệ tạp chất thấp. Điều khiến mình bất ngờ là muối sau khi mua về lại không được sử dụng ngay. Thay vào đó, người ta để muối lưu kho ít nhất ba tháng để loại bỏ vị đắng, vị chát và giảm bớt một số thành phần kim loại không mong muốn. Chỉ riêng chi tiết này cũng khiến mình cảm thấy nước mắm truyền thống không phải một quy trình sản xuất công nghiệp đơn thuần, mà giống một nghề đòi hỏi sự chờ đợi rất dài.

Chụp tại nhà thùng nước mắm Hớn Hưng. Nguồn: Sophia Ngô

Sau khi cá và muối được phối trộn theo tỷ lệ phù hợp, hỗn hợp ấy được đưa vào các thùng gỗ lớn để ủ trong nhiều tháng. hi nước mắm bắt đầu “chín”, người thợ sẽ tiến hành rút nước ra khỏi thùng, sau đó tiếp tục lọc đi lọc lại nhiều lần. Quá trình này kéo dài cho đến khi nước mắm đạt được màu trong suốt như mật ong thì mới dừng lại. Mình thấy thú vị ở chỗ người ta gọi đó là nước mắm “chín”, như thể nó là một sinh vật cần được nuôi dưỡng, cần đủ thời gian để trưởng thành, chứ không đơn thuần là một hỗn hợp hóa học.

Có lẽ vì giá trị đặc biệt ấy mà năm 2006, nước mắm Phú Quốc được đăng ký chỉ dẫn địa lý tại châu Âu, và đến năm 2013, Liên minh châu Âu chính thức công nhận nước mắm Phú Quốc là sản phẩm đầu tiên của Việt Nam đạt chứng nhận chỉ dẫn địa lý tại khu vực này. Đó không chỉ là sự công nhận về mặt thương mại, mà còn là sự thừa nhận dành cho một tri thức bản địa được hình thành từ nhiều thế hệ cư dân biển.

Trong chuyến đi lần này, mình có dịp ghé thăm hai nhà thùng sản xuất nước mắm ở khu vực An Thới là Hớn Hưng và Phụng Hưng. Hai nơi cách nhau không xa nhưng lại tạo cho mình hai cảm giác rất khác nhau. Phụng Hưng có quy mô lớn hơn, thường xuyên đón các đoàn khách du lịch và có tính trình diễn rõ rệt. Trong khi đó, Hớn Hưng yên tĩnh hơn, không tập trung vào tour tham quan đông người mà dành nhiều sự chú ý hơn cho chính sản phẩm của họ. Mình đã thử nếm nước mắm ở cả hai nơi, và dù điều này hoàn toàn mang tính cảm nhận cá nhân, mình lại thích vị của Hớn Hưng hơn. Nó có một độ ngọt rất đặc biệt, không giống vị ngọt của chất phụ gia, mà là vị ngọt đậm của đạm cá sau khi đã được thời gian chuyển hóa hoàn toàn. Có lẽ đó cũng là điều khiến mình nhớ nhất về nước mắm Phú Quốc. Người ta thường nghĩ nước mắm chỉ là thứ được đặt trên bàn ăn, nhưng càng tìm hiểu mình càng thấy nó giống một thứ lưu giữ ký ức của biển hơn. Bởi sau cùng, nước mắm không chỉ được làm từ cá và muối, mà còn được làm từ khí hậu, thời gian, sự kiên nhẫn và cả lịch sử của những con người đã sống cùng biển qua nhiều thế hệ.

Hồ tiêu

Nếu nước mắm là ký ức của biển được giữ lại trong những thùng gỗ lên men qua thời gian, thì hồ tiêu có lẽ là ký ức của đất được kết tinh thành hương vị. Trước khi đến Phú Quốc, mình từng nghĩ tiêu chỉ là một loại gia vị quen thuộc: cay, thơm, tính ấm, được rắc lên món ăn hay dùng để ướp, kho thực phẩm. Nhưng trong chuyến đi vòng quanh đảo, mình đã nhận ra rằng hồ tiêu Phú Quốc không chỉ là một loại nông sản, nó còn là một phần rất sâu của cấu trúc tự nhiên và văn hóa nơi này.

Tiêu Phú Quốc tại Cửa Cạn. Nguồn: Sophia Ngô

Trong hành trình chạy xe quanh đảo, mình ghé vào một farm trồng tiêu ở khu vực Suối Cái – Gành Dầu, tên là Phu Quoc Countryside, và đăng ký một farm tour với mức phí khá dễ chịu (110 nghìn đồng gồm nước, trải nghiệm nếm sản phẩm và tham quan farm). Điều khiến mình bất ngờ không phải là cách họ tổ chức tour hay những thông tin về quy trình trồng trọt, mà là khoảnh khắc mình nếm thử hạt tiêu ngay tại vườn. Hương vị hoàn toàn khác với loại tiêu mình vẫn thường dùng hằng ngày: mùi thơm cay ngọt, khi nhai nuốt xuống thấy ấm bụng mà không hề gắt xộc. Thậm chí ngay cả hình dáng quả tiêu cũng khác: quả mẩy hơn, chuỗi hạt ngắn hơn so với những loại mình từng thấy trước đó. Đó là lần đầu tiên mình nhận ra có lẽ trước đây mình chưa từng thực sự “nếm” hạt tiêu, mà chỉ mới sử dụng nó như một loại gia vị.

Bạn hướng dẫn mình đi farm tour kể khá nhiều về lịch sử cây tiêu trên đảo, từ cách nhân giống, canh tác cho tới thu hoạch. Mình đặc biệt thích một sản phẩm của farm là trà tiêu: một hỗn hợp gồm bột hồ tiêu, tiêu lốt, quế và mật ong. Ban đầu mình khá nghi ngờ, vì tiêu vốn luôn gắn với cảm giác nóng. Nhưng khi pha với nước ấm hay sữa bò nóng, vị trà lại dịu và rất dễ uống, tạo cảm giác ấm người chứ không hề nóng ruột như mình tưởng tượng. Điều thú vị hơn là bạn nhân viên dẫn tour nói với mình rằng họ rất bất ngờ khi thấy một khách Việt ghé farm, bởi phần lớn khách tham quan đều là người nước ngoài. Khoảng hai trăm khách mới gặp một khách Việt. Nghe tới đây mình cũng bất ngờ không kém. Một sản vật gắn với tên gọi “Hồ tiêu Phú Quốc” lại được người nước ngoài quan tâm nhiều hơn chính những người trong nước.

Sau khi trở về, mình tiếp tục tìm hiểu thêm và tình cờ đọc được nghiên cứu Genetic Diversity of Black Pepper Genotypes in Phu-Quoc Island Using SCoT Markers and DNA Barcodes, nghiên cứu về sự đa dạng di truyền của tiêu Phú Quốc. Kết luận của nghiên cứu cho thấy giống tiêu Phú Quốc và Hà Tiên có mức độ tương đồng di truyền rất cao. Điều này khiến mình nghĩ đến một điều thú vị: đôi khi lịch sử của một vùng đất không chỉ được lưu lại trong sách sử hay truyền thuyết, mà còn được lưu giữ trong chính bộ gen của cây cối sinh trưởng trên vùng đất ấy.

Theo chia sẻ của người hướng dẫn, phần lớn diện tích tiêu hiện nay trên đảo vẫn sử dụng giống địa phương như Hà Tiên và Phú Quốc do có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Đảo có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng; người dân thường trồng tiêu vào mùa mưa để tận dụng nguồn nước tự nhiên, đến đầu mùa nắng bắt đầu thu hoạch và phơi hạt. Đất cát pha trên đảo đặc biệt phù hợp với cây tiêu, nhưng điều làm mình ngạc nhiên nhất lại nằm ở phương pháp canh tác truyền thống: đất trồng tiêu thường được bón thêm xác mắm từ các nhà thùng nước mắm trên đảo. Tức là những gì còn lại từ biển lại tiếp tục nuôi dưỡng cây trồng trên đất. Nước mắm nuôi tiêu, còn tiêu lại trở thành gia vị đi cùng hải sản của biển. Một vòng tuần hoàn rất đẹp giữa đất và nước.

Phú Quốc hiện có 3 loại tiêu chính, gồm: tiêu đỏ chín trên cây, được hái thủ công bằng tay. Tiêu đen là hạt tiêu còn xanh được hái hàng loạt rồi phơi khô. Tiêu sọ là loại có giá cao nhất, tiêu chín bỏ vỏ chỉ còn lại lõi hạt. Hồ tiêu Phú Quốc ngày nay được người dân huyện đảo chế biến thành nhiều sản phẩm đa dạng, như: tiêu khô, tiêu xay, muối hồng tiêu, muối tiêu chanh, tiêu tươi ngào đường. Năm 2011, nhãn hiệu tập thể “Hồ tiêu Phú Quốc” cũng được công nhận chính thức. Nếu nhìn trên bản đồ, có thể thấy các vườn tiêu phân bố gần như khắp đảo nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng Bắc đảo như Cửa Dương và Cửa Cạn.

Điều đọng lại với mình không chỉ vị cay ngọt của tiêu Phú Quốc, mà mình còn nhận ra rằng đôi khi những thứ rất nhỏ bé lại lưu giữ được nhiều ký ức nhất của một vùng đất. Một hạt tiêu nhỏ xíu, nhưng bên trong nó có khí hậu của đảo, có đất đỏ, có hơi muối biển, có sự kiên nhẫn của người nông dân và có cả lịch sử của một nơi đã sống rất lâu cùng đất và gió.

Gỏi cá trích

Nếu nước mắm là ký ức của biển được lưu giữ trong những thùng gỗ, hồ tiêu là ký ức của đất được kết tinh thành hương vị, thì có lẽ gỏi cá trích là nơi hai dòng ký ức ấy gặp nhau trên bàn ăn. Trước chuyến đi đến Phú Quốc, gần như tất cả bạn bè từng đến đây đều dặn mình một điều giống nhau: “Đến Phú Quốc nhất định phải thử gỏi cá trích.” Thú thật lúc đó mình không quá kỳ vọng. Trong suy nghĩ của mình, gỏi cá đơn giản chỉ là một món ăn sống được chế biến theo cách nào đó khác biệt. Nhưng đến khi thực sự ngồi trước một đĩa gỏi cá trích ở Phú Quốc, mình mới nhận ra có những món ăn không chỉ để no bụng; chúng giống như một cách để hiểu về khí hậu, biển cả và cách cư dân của một vùng đất sống cùng thiên nhiên.

Gỏi cá trích (tại Phương Đông quán). Nguồn: Sophia Ngô

Điều khiến gỏi cá trích trở nên đặc biệt nằm ở sự đơn giản đến mức khó tin của nó. Cá trích vừa đánh bắt lên, còn giữ nguyên độ tươi của thịt, được làm sạch rồi lọc thành những lát mỏng. Sau đó người ta cho cá vào nước cốt chanh tươi để làm chín bề mặt thịt cá. Khi ăn sẽ trộn cùng hành tím xắt lát, các loại rau thơm, cơm dừa nạo, thêm chút ớt và đậu phộng rang giã dập rồi chấm với nước mắm Phú Quốc. Nghe qua, tất cả chỉ là những nguyên liệu rất quen thuộc. Nhưng điều làm mình thích thú là hầu hết thành phần của món ăn này đều thuộc về chính vùng đất ấy: cá từ biển, nước mắm từ những nhà thùng trên đảo, dừa từ vùng nhiệt đới, rau thơm từ đất vườn địa phương. Nó giống như một bản đồ thu nhỏ của Phú Quốc được đặt trên một chiếc đĩa. Ngay cả chiếc bánh tráng dùng để cuốn gỏi cũng khiến mình bất ngờ. Trước đó mình chưa từng nghĩ bánh tráng ở mỗi nơi lại có thể khác nhau nhiều đến vậy. Người dân trên đảo làm loại bánh tráng riêng, dày hơn, dẻo hơn và kích thước cũng lớn hơn. Khi cuốn cá trích, bánh không bị rách hay vỡ như nhiều loại bánh tráng thông thường.

Quán mình ghé thử tên là Phương Đông Quán, nằm trong một con hẻm nhỏ trên tuyến DT46 ở khu vực An Thới (bạn có thể dễ dàng tìm được địa điểm khi check Google Map). Theo những gì mình tìm hiểu thì đây là một quán khá lâu năm ở khu vực này. Vì nằm trong ngõ nhỏ nên nếu không chú ý rất dễ đi lướt qua. Khi tới nơi mình, điều đầu tiên khiến mình bất ngờ là quán đông hơn tưởng tượng, đa số là người trong vùng. Không gian rất rộng nhưng vẫn giữ được cảm giác địa phương rất rõ, không có kiểu trang trí cố tình tạo điểm check-in hay sắp đặt quá nhiều yếu tố du lịch. Nó tạo cảm giác giống như bước vào một nơi mà người ta vẫn ăn uống hằng ngày, giống một bữa cơm quen thuộc hơn là một điểm đến cho khách du lịch. Quán không có menu cố định mà biển cho gì thì quán bán món đó. Nghe có vẻ rất bình thường, nhưng thực ra nó phản ánh một nhịp sống rất khác với cách vận hành của các đô thị lớn. Ở nhiều nơi, con người tìm cách buộc thiên nhiên phải phục vụ nhu cầu của mình. Nhưng ở đây, nhịp ăn uống dường như vẫn thuận theo nhịp của biển. Cá gì vừa đánh bắt được thì dùng cá đó. Hải sản gì theo mùa thì ăn món đó. Món bán chạy nhất ở quán là gỏi cá trích với mức giá khoảng 150-200 nghìn đồng cho một phần khá đầy đặn, 250 nghìn đồng cho 500g mực ống hấp, các món khác cũng ở mức giá khá dễ chịu.

Bạn mình còn dặn nên thử món gỏi xoài ốc giác, nhưng tiếc là lần này mình đã bỏ lỡ. Tuy nhiên, nghĩ lại thì mình thấy điều thú vị của việc đi đến một vùng đất mới có lẽ không phải là cố gắng ăn hết mọi món nổi tiếng trong một lần. Đôi khi vẫn cần để lại một chút dang dở cho những lần quay trở lại. Giống như Phú Quốc vậy, có những thứ càng tìm hiểu càng thấy nó không chỉ là một hòn đảo có biển đẹp. Và đôi khi, chỉ cần một đĩa gỏi cá trích cũng đủ kể cho người ta nghe rất nhiều câu chuyện về nơi ấy.

Bún quậy

Trong những món ăn của Phú Quốc, mình thấy bún quậy là một món khá thú vị vì nó vừa mang cảm giác rất mới, lại vừa tạo cảm giác quen thuộc đến lạ. Ngay từ cái tên đã khiến người ta tò mò. Sở dĩ gọi là “bún quậy” bởi khi món ăn được mang ra, phần tôm và cá tươi xay nhuyễn vẫn chưa hoàn toàn chín mà sẽ được chan trực tiếp bằng nước dùng đang nóng. Khi ăn, người ta phải tự tay quậy đều để phần tôm cá chín dần, hòa quyện với nước lèo và tạo ra vị ngọt thanh đồng nhất. Điều thú vị là món ăn này không chỉ kết thúc ở việc thưởng thức, mà người ăn còn tham gia vào chính quá trình hoàn thiện món ăn ấy.

Bún quậy Kiến Xây (An Thới). Nguồn: Sophia Ngô

Mình nghe kể rằng bún quậy Phú Quốc thực chất là một biến thể từ bún tôm Bình Định hay bún nước Kon Tum, chỉ khác nhau đôi chút về cách làm và tên gọi. Nhưng điều làm nên nét riêng của bún quậy có lẽ nằm ở nguyên liệu cực kỳ tươi. Sợi bún ở đây cũng không giống loại bún thông thường bán ngoài chợ mà thường được làm trực tiếp ngay tại quán. Khi ăn, cá nhân mình lại thấy nó gần với mì gạo hơn là bún theo cách mình vẫn hình dung trước đó.

Điều khiến mình thích nhất là cảm giác rất khó gọi tên mà món ăn mang lại. Nó khiến mình nhớ đến những bát mì gạo nấu thịt băm mà các bà mẹ miền Bắc thường nấu vào buổi sáng: đơn giản, nóng hổi và dễ chịu. Chỉ khác một điều, nếu món kia là phiên bản của người mẹ miền Bắc thì bún quậy giống như phiên bản của một người mẹ Phú Quốc với thịt được thay bằng hải sản, và vị ngọt không đến từ xương hầm mà đến từ biển. Có lẽ đó cũng là điều đặc biệt nhất của bún quậy: vừa đủ khác để trở thành một món ăn của Phú Quốc, nhưng cũng vừa đủ quen để khiến người ta thấy gần gũi ngay từ lần đầu tiên.

Nấm tràm

Có những món ăn hay sản vật của một vùng đất không phải lúc nào cũng có thể gặp đúng thời điểm. Chúng giống như mùa của gió hay mùa của mưa, phải đủ duyên mới có thể chạm tới. Với mình, Nấm tràm là một trường hợp như vậy. Trên đảo Phú Quốc có rất nhiều rừng tràm, đặc biệt ở những vùng đất ngập nước và khu vực ven rừng. Đến mùa mưa, khi những lớp lá tràm rụng xuống đất, gặp độ ẩm thích hợp sẽ bắt đầu mọc lên nấm tràm. Loại nấm này chỉ xuất hiện trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm, gần như chỉ hiện diện trong một khoảng thời gian rất ngắn. Tiếc là thời điểm mình đến đảo chưa bước vào mùa mưa nên không có cơ hội thưởng thức món ăn này. Nhưng nghĩ lại, có lẽ chính sự xuất hiện ngắn ngủi ấy lại làm nên giá trị riêng của nó. Có những thứ không phải vì hiếm mà trở nên quý, mà vì chúng buộc con người phải học cách chờ đợi đúng mùa.

Rượu Sim

Một điều khác mình được trải nghiệm là rượu sim trong lần ghé thăm farm hồ tiêu. Mình được mời thử một chén nhỏ, và cảm giác đầu tiên là mùi thơm khá nồng nhưng không gắt, vị ban đầu hơi chát rồi dần chuyển sang ngọt dịu ở cuối. Sau khi tìm hiểu thêm, mình mới biết hiện nay trên đảo có khá nhiều cơ sở sản xuất rượu sim, trong đó nổi tiếng có các thương hiệu như Rượu Sim Bảy Gáo, Rượu Sim Sơn, Rượu Sim Thành Long. Điều thú vị hơn là ở Phú Quốc có hai loại sim: Hồng Sim và Tiểu Sim. Hai loại khá giống nhau nhưng khác ở màu quả; Hồng Sim có màu hồng tím còn Tiểu Sim có màu sẫm hơn. Người dân thường chọn Hồng Sim để làm rượu bởi loại này thơm hơn, có vị ngọt chát cân bằng hơn và chứa nhiều sắc tố cùng lượng đường tự nhiên cao hơn.

Cung đường mà mình đã đi qua một vòng đảo

Mình xuất phát từ An Thới, điểm ghé thăm đầu tiên là nhà tù Phú Quốc, đối diện bên kia đường là khu tham quan của hãng nước mắm Phụng Hưng và Hớn Hưng. Điểm đến tiếp theo là chùa Hộ Quốc Trúc Lâm, từ đường DT46 sẽ có một cung đường riêng rẽ vào, chùa Hộ Quốc là điểm cuối của con đường. Đây là một cung đường rợp cây xanh, yên tĩnh, một bên núi một bên biển. Chùa hướng mặt ra biển, nếu bạn thích không gian thanh tịnh, có thể dành thời gian đến đây vãn cảnh chùa.

Đông đảo Phú Quốc

Khi chạy xe từ tuyến DT46 rồi rẽ sang DT47 hướng về phía Đông đảo, mình mang theo một tâm trạng khá háo hức. Trong tưởng tượng của mình, Hàm Ninh sẽ là một làng chài mang dáng dấp quen thuộc của nhiều điểm du lịch biển: đông đúc, nhiều hàng quán, ghe thuyền tấp nập, người dân vừa đánh cá vừa làm du lịch. Nhưng khi thực sự đi vào không gian ấy, cảm giác đầu tiên lại là một sự hụt hẫng rất khó gọi tên. Hàm Ninh không mang vẻ nhộn nhịp mà mình nghĩ tới. Nó giống một phần ký ức còn sót lại của một thời từng đông đúc hơn, giống như tiếng vọng của một nơi từng sống động nhưng giờ đây đang nói rất nhỏ.

Rải rác dọc bờ biển vẫn còn những nhà bè mở quán hải sản, vẫn có khách ghé qua, nhưng tất cả không đủ để che lấp cảm giác tĩnh lặng đang phủ lên cả vùng này. Mình đi ngang Dinh Bà Hàm Ninh rồi tiếp tục theo tuyến TL48 men dọc bờ biển phía Đông. Nhưng càng đi, không gian lại càng trở nên heo hút. Nhà cửa đơn sơ hơn, nhiều khu đất canh tác bỏ trống, những khoảng đất rộng nằm yên như thể thời gian ở đây đang trôi với tốc độ khác với phần còn lại của đảo.

Nếu nhìn trên bản đồ, dọc tuyến TL48 vẫn xuất hiện khá nhiều khu resort nằm rải rác. Mình cũng ghé thử một nơi có quán cà phê bên trong. Khách lưu trú chỉ lác đác vài người nước ngoài. Không gian khá rộng nhưng mang cảm giác cô quạnh, cách bài trí cũng không quá chăm chút. Với những resort khác mình không bước vào nên không thể đánh giá bên trong, nhưng nhìn từ bên ngoài, mình có cảm giác nơi này phù hợp với những người thật sự muốn tách mình khỏi đám đông. Điều thú vị là các khu nghỉ dưỡng ở đây dường như tồn tại riêng lẻ, không tạo thành một hệ sinh thái kết nối. Chúng giống như những căn nhà đứng cạnh nhau nhưng không trò chuyện với nhau. Nếu phía Tây đảo mang cảm giác mở rộng và hướng ra ngoài, thì phía Đông giống như một không gian khép vào bên trong chính nó.

Trên cung đường này còn có Bến phà Thạnh Thới nối sang Hà Tiên. Nhưng bến phà cũng khá vắng vẻ, có lẽ chủ yếu phục vụ cư dân địa phương theo những khung giờ cố định. Tiếp tục đi dọc TL48, thỉnh thoảng xuất hiện những con đường nhỏ dẫn ra biển. Nhưng thú thật, khung cảnh quá vắng khiến mình không dám tùy tiện rẽ vào. Có những nơi tạo cho người ta cảm giác muốn khám phá thêm, nhưng cũng có những nơi khiến người ta chỉ muốn đi chậm lại và quan sát từ xa.

Đi hết TL48 sẽ gặp một vòng xoay, từ đó có thể tiếp tục đi lên cực Bắc của đảo tới khu vực Mũi Trâu Nằm, nơi có Dinh Bà thờ bà Kim Giao. Tuy nhiên hôm đó thời gian đã không còn sớm nên mình rẽ sang tuyến DT973. Đây là cung đường xuyên qua Vườn quốc gia Phú Quốc dài khoảng 30-40km, băng qua khu rừng nguyên sinh phía Đông Bắc đảo.

Cảm giác khi đi trên cung đường này khác hẳn với những gì vừa trải qua trước đó. Không khí trở nên mát hơn, cây cối dày đặc hơn, và cảm giác về sự hiện diện của con người bỗng giảm đi rất nhiều. Trên tuyến đường này còn có điểm tham quan vườn quốc gia với ba phân khu chức năng gồm khu bảo tồn nghiêm ngặt, khu phục hồi sinh thái và khu hành chính – nghiên cứu. Tuy nhiên theo mình tìm hiểu, muốn tham quan sâu hơn cần đăng ký và đi cùng người hướng dẫn nên mình đành bỏ qua.

Càng đi mình càng hiểu vì sao phía Đông lại mang đến một cảm giác rất khác với phần còn lại của đảo. Khác với bờ Tây khá thoải và rộng mở, phía Đông có những dãy núi chạy sát biển, nhiều chân núi, nhiều suối ngầm và nhiều vùng chuyển tiếp giữa rừng với biển. Phía sau là núi, trước mặt là biển và ở giữa là những cộng đồng dân cư nhỏ. Về mặt cảm giác không gian, kiểu địa hình ấy tạo ra sự bao bọc, chiều sâu và một cảm giác rất khó nhìn thấy toàn bộ ngay lập tức. Phía Đông Phú Quốc không mở ra trước mắt người ta như phía Tây. Nó không phô bày ngay lập tức những gì mình có. Nó giống như một người ít nói hơn là một người thích gây ấn tượng từ lần gặp đầu tiên.

Và Hàm Ninh là hình ảnh rõ nhất cho điều đó. Nếu Dương Đông dường như sinh ra để trao đổi, gặp gỡ và dịch chuyển, thì Hàm Ninh giống như nơi được tạo ra để bám đất, bám nước và bám mùa. Ở đây ghe nhỏ hơn, nhịp đi chậm hơn, chợ ít ồn ào hơn. Nhiều người từng sống trên đảo nói rằng cư dân Hàm Ninh cũng ít nói hơn, quan sát nhiều hơn và ít có xu hướng “bắt khách” như ở khu trung tâm.

Có lẽ bởi cấu trúc dân cư ở phía Đông ít đứt gãy hơn phía Tây. Người dân ở đây phần lớn vẫn là cư dân gốc đảo, ngư dân, người làm lưới, người làm vườn hay nuôi hải sản. Nhiều gia đình sống gần nhau qua nhiều thế hệ, trao đổi với nhau bằng quan hệ nhiều hơn bằng hợp đồng. Điều đó khiến phía Đông vẫn giữ được thứ mà mình nghĩ nhiều nơi khác trên đảo đang dần mất đi: cảm giác của một ngôi làng. Không phải một điểm đến du lịch, mà là một nơi người ta thật sự đang sống.

Bắc đảo Phú Quốc

Một con đường đất đỏ tại Bắc đảo. Nguồn: Sophia Ngô

Sau khi rời tuyến DT973, mình đi đến một ngã ba rồi rẽ vào đường Suối Cái – Gành Dầu vì điểm đến tiếp theo là farm tiêu Phú Quốc Countryside (nằm trên đường trên đường Cửa Cạn đoạn ngã 3 giao với đường Suối Cái – Gành Dầu), trải nghiệm mà mình đã chia sẻ ở phần về hồ tiêu. Nhưng nếu bỏ qua điểm dừng này và tiếp tục đi sâu hơn, con đường Suối Cái – Gành Dầu sẽ dẫn vào một phần rất khác của đảo. Từ đường Suối Cái – Gành Dầu, sẽ có một ngã ba khác: một hướng đi lên Rạch Vẹm, nơi nổi tiếng với cái tên “vương quốc sao biển” (bạn chú ý, bãi này mới có con sao biển, còn bãi Sao ở phía Nam là tên bãi thôi, không có con sao biển đâu), một hướng tiếp tục đi thẳng qua trạm kiểm lâm Rạch Vẹm rồi tiến sâu vào khu vực Gành Dầu và điểm cuối sẽ là mũi Gành Dầu, nơi có quần thể Vinpearl Phú Quốc. Điều thú vị là trên bản đồ, đoạn đường này trông khá bình thường. Nhưng trải nghiệm thực tế lại hoàn toàn khác. Sau trạm kiểm lâm là một cung đường đất đỏ rộng, gập ghềnh, xuyên qua những khoảng rừng dày đến mức ánh nắng nhiều nơi khó chạm được xuống mặt đất. Nếu đi một mình, thật sự mình không khuyến khích chọn tuyến này. Không phải vì nó quá nguy hiểm, mà bởi cảm giác cô lập ở đây rất rõ. Khi đang chạy xe, đôi lúc mình bắt gặp những con khỉ bất ngờ xuất hiện bên vệ đường rồi nhảy vụt vào rừng. Và trong những khoảnh khắc như vậy, mình chợt nhận ra rằng ở nơi này con người không phải chủ nhân của không gian; con người chỉ là người đi ngang qua.

Nếu đi Bắc đảo theo chiều Tây Bắc – Đông Bắc – lõi rừng, mình cảm giác nơi đây có thể được chia thành bốn lớp trải nghiệm khác nhau, như những vòng đồng tâm mở dần vào phần sâu nhất của đảo.

Nhóm không gian biển – mũi đất – làng chài

Lớp đầu tiên là nhóm không gian biển – mũi đất – làng chài. Trong đó, Gành Dầu giống như phần đầu Tây Bắc của đảo, nơi có thể nhìn thẳng sang Campuchia ở những ngày trời quang. Ở đây ghềnh đá nhiều, sóng mạnh hơn vào mùa gió và gió gần như không ngừng nghỉ. Điều mình nhớ nhất ở Gành Dầu không phải cảnh vật mà là cảm giác về không gian: rất thoáng, rất rộng và rất mở. Gió ở đây mạnh đến mức người ta có cảm giác mọi thứ đều đang chuyển động.

Khác với Gành Dầu, Rạch Vẹm lại mang một sắc thái khác hẳn. Nơi đây nổi tiếng với những bức ảnh sao biển đỏ nằm trên mặt nước nông, nhưng điều khiến mình thấy thú vị hơn lại là cấu trúc tự nhiên phía sau: những làng chài nhỏ, những khu rừng ngập mặn và vùng biển cạn kéo dài. Nếu Gành Dầu tạo cảm giác về sự chuyển động thì Rạch Vẹm lại tạo cảm giác về sự lặng. Mình nghĩ nơi này đẹp nhất vào sáng sớm, khi biển còn yên và ánh sáng chưa quá mạnh.

Đi tiếp lên phía Đông Bắc là khu vực Bãi Thơm, một trong những nơi vẫn còn ít đô thị hóa nhất trên đảo. Biển ở đây không phải kiểu bãi cát dài và mở rộng như phía Tây, mà có nhiều đá, nhiều cây và mặt nước khá tĩnh. Cảm giác ở đây giống như một vùng đệm giữa biển và rừng hơn là một bãi biển dành cho du lịch đại chúng.

Nhóm không gian rừng – núi – suối

Lớp thứ hai của Bắc đảo là không gian rừng – núi – suối, nơi mình cảm thấy rõ nhất phần “xương sống” sinh thái của Phú Quốc. Chính giữa khu vực này là Vườn quốc gia Phú Quốc tức phần lõi sinh thái của toàn đảo với hệ rừng nguyên sinh, cây cổ thụ, chim chóc, côn trùng và những dòng suối ngầm chạy từ núi xuống biển. Trong đó, Suối Đá Bàn có lẽ là nơi nổi tiếng hơn cả. Tên gọi của nó xuất phát từ những phiến đá lớn, phẳng như mặt bàn nằm giữa lòng suối. Nếu nhìn dưới góc độ địa hình hay địa khí, nơi này tạo cảm giác rất rõ của yếu tố “thổ” và “thủy”: mát, ẩm và trầm. Những ai quan tâm đến cảm nhận không gian sẽ hiểu cảm giác ấy: không phải vẻ đẹp khiến người ta muốn chụp ảnh ngay lập tức, mà là kiểu không gian khiến người ta muốn ngồi xuống lâu hơn. Xa hơn một chút là Suối Đá Ngọn. So với Suối Đá Bàn, nơi này ít khách hơn và giữ được vẻ hoang sơ hơn. Muốn vào sâu phải trekking một đoạn khá dài, nhưng cũng vì vậy mà nó tạo cảm giác gần với thiên nhiên hơn.

Điều đặc biệt nhất ở Bắc đảo không nằm ở việc có bao nhiêu điểm tham quan. Điều khiến mình nhớ lại nhiều nhất là cảm giác rằng nơi đây vẫn còn giữ được phần tự nhiên nguyên bản của Phú Quốc. Nếu phía Nam đang phát triển thành một không gian của trải nghiệm, phía Tây là không gian của giao thương, phía Đông là không gian của ký ức làng chài, thì Bắc đảo giống như phần rễ của hòn đảo này, nơi vẫn còn giữ lại nhịp thở chậm hơn, hoang dã hơn và gần với Phú Quốc trước khi những lớp bê tông xuất hiện.

Nhóm hệ sinh thái Vin

Lớp thứ ba là nhóm hệ sinh thái Vin. Nếu nhìn Phú Quốc như một cơ thể sống: có xương sống là dãy núi chạy dọc Bắc – Nam, có hệ tuần hoàn là những dòng suối ngầm và hải lưu, có ký ức văn hóa nằm trong các làng chài, các Dinh Bà, những đợt di cư và những cộng đồng cư dân nhiều đời bám biển, thì sự xuất hiện của hệ sinh thái Vinpearl ở Bắc đảo có lẽ không nên được nhìn đơn thuần như một dự án bất động sản hay du lịch nghỉ dưỡng. Nó giống như việc đặt một “cơ quan nhân tạo” vào vùng được xem là nơi giữ khí mạnh nhất của hòn đảo. Và điều đáng nói là “cơ quan” ấy được thiết kế để tự vận hành như một hệ thống gần như hoàn chỉnh.

Điều đặc biệt của Vin không nằm ở từng công trình đơn lẻ như khách sạn, biệt thự hay công viên giải trí. Bởi nếu nhìn riêng từng hạng mục, chúng ta có thể bắt gặp ở nhiều nơi khác. Điểm đáng chú ý nằm ở tư duy phát triển theo mô hình “đóng vòng hệ sinh thái”. Từ resort, villa, công viên chủ đề, safari, sân golf, phố thương mại, bệnh viện, xe điện nội khu cho tới chuỗi nhà hàng và dịch vụ, mọi thứ được kết nối với nhau để tạo thành một không gian gần như khép kín. Một du khách có thể đến đây, lưu trú, vui chơi, tiêu dùng rồi rời đi mà gần như không cần bước ra khỏi hệ thống. Đây không còn là một điểm đến du lịch thông thường, mà giống như một điểm đến nằm bên trong một điểm đến.

Nếu nhìn từ góc độ kinh tế du lịch, đây rõ ràng là một chiến lược rất hiệu quả. Bởi việc giữ chân dòng tiền bên trong hệ thống giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn chất lượng dịch vụ, đồng bộ trải nghiệm khách hàng và kéo dài thời gian lưu trú. Thay vì du khách phân tán đến nhiều nơi khác nhau, toàn bộ hành trình gần như được giữ lại trong một vòng tuần hoàn nội bộ. Điều này cũng tạo ra cảm giác thuận tiện và an toàn, đặc biệt với nhóm khách gia đình hoặc khách du lịch nghỉ dưỡng ngắn ngày.

Nhưng nếu chuyển góc nhìn sang xã hội học không gian, câu chuyện lại trở nên thú vị hơn nhiều. Bởi bên cạnh hiệu quả kinh tế, hệ sinh thái này đồng thời tạo ra một dạng “đô thị nghỉ dưỡng bán khép kín”, một thế giới với nhịp sống riêng, logic vận hành riêng và hệ tiêu chuẩn riêng, tương đối tách biệt với đời sống bản địa của đảo.

Điều đáng chú ý là khi Vin lựa chọn Bắc đảo, họ không chọn khu vực đông dân cư hay trung tâm thương mại truyền thống như Dương Đông. Thay vào đó, họ chọn đúng vùng nằm gần rừng nguyên sinh, tương đối tách biệt với khu dân cư hiện hữu và sở hữu cảnh quan tự nhiên còn khá nguyên vẹn.

Nếu nhìn từ góc độ chiến lược, đây là một quyết định rất thông minh. Bởi thứ nhất, cảnh quan tự nhiên trở thành tài sản thương hiệu. Rừng nguyên sinh, biển rộng, khoảng không lớn và sự biệt lập tạo ra những giá trị khó sao chép ở nơi khác. Thứ hai, chính khoảng cách với khu dân cư lại tạo ra cảm giác độc quyền. Trong du lịch nghỉ dưỡng hiện đại, sự yên tĩnh đôi khi trở thành một dạng xa xỉ phẩm. Một nơi càng ít người, càng tách biệt khỏi nhịp sống thường ngày thì lại càng tạo cảm giác “độc quyền”. Và thứ ba, thiên nhiên tại đây không biến mất mà được chuyển đổi thành trải nghiệm tiêu dùng. Rừng vẫn còn, biển vẫn còn, nhưng chúng không còn tồn tại như những thực thể tự nhiên nguyên bản nữa. Chúng được cắt tỉa, định tuyến, quản lý và đóng gói thành trải nghiệm phù hợp với nhu cầu nghỉ dưỡng.

Nhưng cũng từ đây xuất hiện một hệ quả xã hội khá rõ: Bắc đảo bắt đầu hình thành hai lớp không gian tồn tại song song. Lớp thứ nhất là không gian của Vin: sạch sẽ, đồng bộ, có bảo vệ, có xe điện, có nhạc nền và có một tiêu chuẩn dịch vụ được áp dụng giống nhau trên toàn hệ thống. Mọi thứ đều được thiết kế để tạo cảm giác an toàn, dễ dự đoán và phù hợp với gia đình có trẻ nhỏ. Ngay cả thiên nhiên trong không gian này cũng mang tính “đã được xử lý”. Cây xanh được bố trí hợp lý, đường đi được định hướng rõ ràng, cảnh quan được kiểm soát để tạo ra trải nghiệm thoải mái nhất. Nhưng ngay bên ngoài lớp không gian ấy lại tồn tại một thế giới khác. Đó là không gian của cư dân địa phương: những chiếc ghe đánh cá neo bên bờ, những quán ăn gia đình, người ngồi vá lưới, trẻ con chạy xe máy trên con đường đất đỏ, những ngày mưa biến đường thành bùn lầy và nhịp sống mang rất rõ hơi thở của biển Tây. Điều thú vị là hai không gian này không tách biệt hoàn toàn. Chúng nằm ngay cạnh nhau, nhìn thấy nhau, ảnh hưởng đến nhau, nhưng lại chưa thực sự hòa vào nhau. Có cảm giác như hai nhịp thời gian đang cùng tồn tại trên một vùng đất. Một bên là thời gian của quy hoạch, của tốc độ, của tiêu chuẩn hóa và trải nghiệm tiêu dùng. Một bên là thời gian của mùa cá, của mưa nắng, của quan hệ cộng đồng và ký ức địa phương.

Có lẽ đó cũng là một trong những câu hỏi lớn nhất đối với Phú Quốc hôm nay: làm thế nào để sự phát triển có thể tạo ra giá trị mới mà không khiến những lớp ký ức cũ dần biến mất. Bởi sau cùng, điều khiến một hòn đảo trở thành một vùng đất đáng nhớ không chỉ nằm ở những công trình được xây dựng trên nó, mà còn nằm ở việc nơi ấy vẫn giữ lại được bao nhiêu phần linh hồn vốn có của mình.

Nhóm văn hóa bản địa

Lớp thứ tư là nhóm văn hóa bản địa. Đây không phải kiểu điểm đến gây ấn tượng mạnh ngay từ cái nhìn đầu tiên, mà giống những mạch nước ngầm nằm dưới bề mặt của đảo, chỉ hiện ra khi người ta đi chậm lại đủ lâu. Trong số đó, Cửa Cạn là một ví dụ khá rõ. Đây là nơi sông gặp biển, nơi rừng bắt đầu chuyển tiếp sang khu dân cư, tạo nên một vùng đệm rất đặc biệt giữa tự nhiên và đời sống con người. Không gian ở đây không quá ồn ào hay đông đúc; thay vào đó là cảm giác về một nhịp sống còn giữ lại nhiều cấu trúc cũ của đảo. Những ngôi nhà ven sông, ghe thuyền neo đậu, những khoảng nước lặng phản chiếu rừng cây phía xa khiến nơi này phù hợp hơn với việc quan sát, chèo SUP hay đơn giản chỉ là ngồi nhìn dòng nước đổi màu theo ánh sáng trong ngày.

Bên cạnh đó, những vườn tiêu nằm rải rác quanh khu vực Gành Dầu và Cửa Cạn cũng là một phần của cấu trúc văn hóa bản địa Bắc đảo. Nhiều người xem chúng đơn thuần là nơi sản xuất nông nghiệp hoặc điểm tham quan cho du khách, nhưng nếu nhìn sâu hơn, đây thực chất là nơi lưu giữ mối quan hệ giữa con người với đất đai của đảo. Nếu quan tâm đến khí đất, cây dược liệu hay cách cư dân địa phương xây dựng hệ nông nghiệp thích nghi với môi trường biển đảo, những nơi này lại trở nên rất thú vị.

Tây đảo Phú Quốc

Trên hành trình chạy dọc tuyến DT45 từ Bắc xuống Nam, mình lần lượt đi qua bãi biển Ông Lang, khu Dương Đông, Dinh Cậu, Dinh Bà, chợ đêm Bạch Đằng. Càng đi, mình càng nhận ra rằng gần như toàn bộ phần “mặt tiền” của Phú Quốc hôm nay đều tập trung ở phía Tây: sân bay, những resort đầu tiên, khu hành chính, cảng cũ, phố du lịch và các trung tâm thương mại dịch vụ. Điều này không hẳn là kết quả của quy hoạch tình cờ, mà bắt nguồn từ chính cấu trúc tự nhiên của vùng đất này.

Phía Tây sở hữu ít nhất ba lợi thế rất rõ về mặt địa hình và lịch sử. Trước hết là mặt biển hướng thẳng ra vịnh Thái Lan. Mỗi chiều, mặt trời lặn trực tiếp xuống đường chân trời ngoài biển, ánh sáng vàng trải dài trên mặt nước và gió biển thường dịu hơn vào mùa lạnh. Điều này khiến bờ Tây gần như sở hữu một “tài nguyên thị giác” rất lớn. Hoàng hôn ở đây không chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà dường như đã trở thành một loại tài sản du lịch. Người ta xây beach club để ngắm hoàng hôn, đặt bàn ăn hướng Tây để đợi mặt trời xuống biển, tổ chức biểu diễn, chụp ảnh cưới hay đơn giản là ngồi nhìn ánh sáng đổi màu trên mặt nước.

Lợi thế thứ hai nằm ở địa hình. Nếu phía Đông, đặc biệt quanh Hàm Ninh, có núi áp sát biển tạo nên những dải đất hẹp và chia cắt, thì phía Tây lại có địa hình thoải hơn rất nhiều. Đất chạy dài liên tục, tương đối bằng phẳng và thuận lợi cho việc mở đường, phân lô hay phát triển hạ tầng quy mô lớn. Điều này khiến quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh hơn và ít tốn chi phí hơn.

Nhưng lợi thế quan trọng nhất lại nằm ở lịch sử giao thương. Từ thời ghe biển, tàu cá cho đến tàu hàng sau này, Dương Đông luôn là điểm neo đậu tự nhiên của đảo. Điều đó có nghĩa rằng phía Tây từ rất sớm đã là cửa ra biển và đồng thời cũng là cửa bước vào đảo. Những nơi từng là điểm gặp gỡ của dòng người thường sẽ phát triển thành trung tâm, và phía Tây Phú Quốc cũng không nằm ngoài quy luật ấy.

Có lẽ vì vậy mà bầu không khí cư dân ở phía Tây khác rất nhiều so với những vùng khác trên đảo. Đây là khu vực có cấu trúc dân cư phức tạp nhất Phú Quốc hiện nay. Ở đây ít nhất tồn tại bốn lớp cộng đồng khác nhau cùng sống song song. Lớp đầu tiên là cư dân gốc đảo: những ngư dân, chủ nhà thùng nước mắm, người trồng tiêu hay các gia đình buôn bán lâu đời. Họ vẫn giữ ký ức của Phú Quốc cũ, giữ các quan hệ dòng họ và tín ngưỡng biển. Lớp thứ hai là cộng đồng lao động nhập cư, phần lớn đến từ Kiên Giang, miền Tây, miền Trung hay Tây Nguyên. Họ làm việc trong khách sạn, nhà hàng, xây dựng hoặc logistics. Lớp thứ ba là nhóm cư dân đầu tư: chủ homestay, chủ quán cà phê, môi giới bất động sản hay những người đến đảo với mục tiêu tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Và lớp thứ tư là những cư dân du mục số: creator, freelancer, chủ studio hoặc những người chọn lưu trú dài hạn để vừa làm việc vừa sống trên đảo.

Chính sự chồng lấp này khiến phía Tây không còn mang cảm giác của một ngôi làng, nhưng cũng chưa thật sự trở thành một đô thị hoàn chỉnh. Nó giống một thị trấn biên giới đang liên tục mở rộng hơn. Điều này cũng tạo nên một tâm lý cư dân khá đặc biệt. Người sống lâu ở Dương Đông hay khu vực Cửa Lấp thường có nhịp sống rất nhanh: dậy sớm, xử lý việc nhanh, nhạy cảm với giá cả, quen khách lạ và quen với những biến động của mùa du lịch. Họ sống giữa nhiều dòng chảy cùng lúc: mùa khách, giá đất, booking, thời tiết, tàu cá và các thay đổi chính sách. Điều đó khiến con người ở đây mang tính thực tế hơn, linh hoạt hơn và ít lãng mạn hơn so với nhiều vùng khác trên đảo. Có lẽ bởi ở phía Tây, mọi thứ cuối cùng đều quy về hai dòng chảy lớn nhất: dòng người và dòng tiền.

Nếu đi từ Bắc xuống Nam theo trục Tây đảo, nơi đây có thể chia thành nhiều lớp trải nghiệm khác nhau. Nhóm đầu tiên là không gian tín ngưỡng, với Dinh Cậu và Dinh Bà gần như là trung tâm tín ngưỡng biển nổi tiếng nhất đảo. Buổi chiều là thời điểm đẹp nhất để đến đây, bởi bạn sẽ thấy người địa phương, người đi biển và khách du lịch cùng hội tụ ở một điểm.

Nhóm thứ hai là không gian của thị trấn và cư dân. Nếu muốn quan sát nhịp thương mại thực sự, hãy đi Chợ đêm Phú Quốc vào khoảng từ sáu đến chín giờ tối hoặc ghé Chợ Dương Đông vào sáng sớm. Hai nơi này phản ánh hai mặt rất khác của đời sống đảo: một bên là du lịch, một bên là đời sống thật.

Nhóm thứ ba là không gian của biển và hoàng hôn như Bãi Trường hay Ông Lang. Nhóm thứ tư là các làng nghề với nhà thùng nước mắm và những vườn tiêu nằm rải rác quanh Cửa Dương, Cửa Cạn hay Dương Tơ. Cuối cùng là nhóm ẩm thực và đời sống như khu vực làng chài quanh Dinh Cậu, nơi nếu muốn nghe tiếng ghe máy, nhìn người vá lưới hay cảm nhận “nhịp tim xã hội” của đảo, có lẽ nên đến vào khoảng trước bình minh hoặc trước khi mặt trời lặn.

Nam đảo Phú Quốc

Chạy dọc theo DT45, mình quay trở lại An Thới và khép lại một vòng tự khám phá quanh đảo.

Về địa hình, phía Nam mang sắc thái gần như đối lập với Bắc đảo. Nếu phía Bắc có nhiều núi, nhiều rừng và cảm giác địa hình nâng lên, thì phía Nam lại thấp hơn, mở rộng dần ra biển, với nhiều đảo nhỏ ngoài khơi, nhiều cửa biển sâu và những luồng gió mạnh chạy xuyên suốt quanh năm. Chính điều này tạo ra một cảm giác rất khác về không gian. Phía Nam luôn sáng hơn, thoáng hơn, nhiều gió hơn và ít cảm giác khép kín hơn. Nếu phía Đông mang cảm giác ôm vào, giữ lại, bao bọc, thì phía Nam lại mang cảm giác mở ra và đẩy đi. Đây là dạng địa hình rất phù hợp với hàng hải, với đánh bắt xa bờ, và trong thời hiện đại là điều kiện thuận lợi cho du lịch biểu tượng phát triển.

Trong một thời gian rất dài, An Thới trước hết là một thị trấn cảng. Nó là nơi tập trung ghe xa bờ, xưởng cơ khí, kho đá lạnh, bến cá và các hoạt động hậu cần biển. Đó là kiểu thị trấn mà chỉ cần đi ngang qua cũng có thể nhận ra bằng khứu giác: mùi dầu máy, mùi cá, mùi nước biển và tiếng động cơ tàu thuyền vang lên từ rất sớm. Nhịp sống nơi này không bắt đầu vào tám giờ sáng như các đô thị thông thường. Nó bắt đầu từ hai hoặc ba giờ sáng, theo con nước, theo mùa cá và theo thời tiết. Người ta thức dậy trước bình minh bởi biển không vận hành theo giờ hành chính.

Nhưng trong hơn mười năm trở lại đây, An Thới đang trải qua một quá trình chuyển hóa rất mạnh. Từ một nền kinh tế khai thác biển, nơi đây đang dần bước sang thứ có thể gọi là “kinh tế của sự chú ý”. Sự xuất hiện của Sun Group không chỉ thay đổi cảnh quan kiến trúc, mà còn thay đổi cách con người cảm nhận không gian. Những nơi từng là bến tàu, đồi thấp, bãi đá hay những mép biển đơn sơ giờ đây được chuyển hóa thành quảng trường, những dãy công trình mang hơi hướng Địa Trung Hải, cáp treo vượt biển, cầu biểu tượng và các show diễn ánh sáng. Điều đáng chú ý là sự thay đổi này không đơn thuần là thay đổi về hình thức vật chất. Nó thay đổi cả cách con người tương tác với vùng đất ấy. Trước đây người ta đến An Thới để đi biển. Giờ đây nhiều người đến để ngắm hoàng hôn, xem trình diễn, chụp hình hay trải nghiệm cảm giác hiện diện trong một khung cảnh đã được thiết kế sẵn.

Điều này cũng tạo nên những lớp cư dân rất khác nhau đang cùng tồn tại ở phía Nam. Lớp đầu tiên vẫn là cư dân biển truyền thống: ngư dân, chủ tàu, thợ máy, người làm đá lạnh hay những người buôn bán hải sản. Họ vẫn sống theo nhịp biển và giữ ký ức của An Thới cũ cùng những tín ngưỡng của cư dân biển. Lớp thứ hai là nhóm lao động dịch vụ du lịch: lễ tân, bartender, đầu bếp, tài xế, hướng dẫn viên. Cuộc sống của họ vận hành theo mùa khách, theo booking và theo lượng khách du lịch. Lớp thứ ba là một cộng đồng rất mới: những người sống bằng sự xuất hiện của chính mình:  photographer, creator, stylist, người làm livestream hoặc các nhân sự kỹ thuật cho những hoạt động trình diễn. Và lớp thứ tư là cộng đồng đầu tư và đầu cơ: môi giới, chủ villa, người mua bán đất hoặc những nhà đầu tư ngắn hạn. Chính nhóm này tạo ra cảm giác rằng phía Nam luôn ở trong trạng thái nóng, gấp và biến động.

Phía Nam dường như không còn sống theo thủy triều như trước nữa. Ở Hàm Ninh hay Dương Đông cũ, người ta sống theo gió, theo mùa cá và theo con nước. Nhưng ở Nam đảo hiện đại, nhiều người lại sống theo giờ biểu diễn, giờ cáp treo, giờ hoàng hôn, giờ check-in hay lịch sự kiện. Nhịp sống chuyển từ chu kỳ tự nhiên sang chu kỳ của trải nghiệm. Người sống lâu ở khu vực này thường mang một nhịp khá nhanh: chủ động hơn, ít ngại thay đổi hơn và bắt nhịp xu hướng rất nhanh. Nhưng đồng thời cũng vì thế mà nơi đây dễ tạo cảm giác thiếu ổn định. Người ta có thể đổi việc nhanh, thuê nhà rồi chuyển đi, làm mùa này rồi nghỉ mùa khác.

Nếu đi Nam đảo theo chiều từ đất liền ra biển xa, mình có cảm giác nơi đây giống như một chuyển động dần từ đời sống thực sang không gian trải nghiệm. Càng đi xa khỏi phần lõi cư dân, không gian càng mở rộng hơn, biển xuất hiện nhiều hơn và nhịp sống cũng thay đổi theo.

Nhóm thị trấn cảng – cư dân biển An Thới

Lớp đầu tiên trong hành trình ấy là An Thới, thị trấn cảng cổ của phía Nam đảo. Nếu muốn hiểu An Thới trước khi nơi này trở thành một phần của đô thị du lịch hiện đại, có lẽ nên đến vào khoảng từ bốn rưỡi đến bảy giờ sáng. Đó là lúc tàu cá bắt đầu trở về, chợ hải sản dần đông lên, những xưởng đá lạnh hoạt động và cư dân biển bước vào một ngày mới. Đây không phải kiểu không gian được tạo ra để ngắm nhìn, mà là nơi người ta có thể cảm nhận rõ nhịp sống thật của đảo.

Nhóm đảo nhỏ và bãi biển

Đi tiếp ra xa hơn là lớp không gian của biển và các đảo nhỏ. Hòn Thơm nổi bật với mặt nước xanh, những bãi cát đẹp và các hoạt động lặn biển. Xa hơn nữa là Quần đảo An Thới với những cái tên như Hòn Móng Tay, Hòn Gầm Ghì hay Hòn Mây Rút, nơi phù hợp với những ai muốn ngắm san hô hoặc trải nghiệm cảm giác tách khỏi đất liền. Và cuối cùng là những bãi biển như Bãi Khem hay Bãi Sao. Một nơi mang sắc thái nghỉ dưỡng cao cấp, một nơi lại giữ vẻ đẹp dịu dàng hơn với mặt nước trong và cát trắng trải dài.

Nhóm hệ sinh thái Sun – đô thị trình diễn

Nếu Bắc đảo của hệ sinh thái Vinpearl giống như một thế giới được thiết kế để ở lại, thì Nam đảo của Sun Group dường như lại được thiết kế để được nhìn thấy. Nếu Vin xây dựng một hệ sinh thái mang tính khép kín, nuôi dưỡng và giữ nhịp, thì Sun đang kiến tạo một hệ sinh thái nơi kiến trúc, ánh sáng, đám đông, sự kiện và hình ảnh trở thành động cơ chính tạo ra giá trị. Điều này khiến Nam Phú Quốc không còn được đọc như một làng biển theo nghĩa truyền thống, mà giống như một “thành phố điểm đến” được dựng lên để thu hút ánh nhìn, tạo ra ký ức thị giác, kích hoạt sự lan truyền trên mạng xã hội và khiến du khách có cảm giác rằng họ đang tham gia vào một sự kiện, chứ không đơn thuần chỉ đi nghỉ dưỡng.

Hệ sinh thái của Sun ở Nam đảo trải dài qua nhiều khu vực như An Thới, Sunset Town, Cầu Hôn và Hòn Thơm. Nhưng nếu quan sát kỹ hơn, có thể thấy Sun không đơn thuần xây dựng những công trình riêng lẻ rồi đặt chúng cạnh nhau. Điều họ đang làm là biến gần như toàn bộ phía Nam thành một cảnh quan được dàn dựng theo một cấu trúc có chủ ý.

Ở đây, mỗi thành phần đều giống như một phân đoạn trong một vở diễn lớn. Cáp treo trở thành phần mở màn của hành trình; Hòn Thơm đóng vai trò như cao trào trải nghiệm; quảng trường trở thành nơi tụ hội; Cầu Hôn trở thành biểu tượng thị giác; còn các chương trình trình diễn buổi tối là phần kết thúc cảm xúc. Điều đó có nghĩa là du khách không đơn thuần di chuyển từ điểm A đến điểm B. Họ được dẫn đi qua một chuỗi trải nghiệm được sắp đặt: từ độ cao của cáp treo, ánh sáng phản chiếu trên mặt nước, âm thanh, biển, kiến trúc cho tới đám đông. Nói cách khác, Sun đang kể một kịch bản du lịch.

Sun không lựa chọn mỹ học bản địa của Phú Quốc làm trung tâm. Họ không lấy làng chài, nhà thùng nước mắm, vườn tiêu hay các miếu biển làm hình ảnh chủ đạo. Thay vào đó, họ chọn những quảng trường kiểu Ý, những façade mang cảm hứng Amalfi, ban công, mái vòm, piazza và các tượng đài lớn. Đây là một lựa chọn rất rõ ràng về mặt chiến lược: thay vì kể câu chuyện “Phú Quốc cũ”, họ đang kể câu chuyện “Phú Quốc như một thành phố toàn cầu”.

Sự khác biệt này tạo ra một bầu không khí rất riêng cho Nam đảo. Nơi đây có cảm giác rất rất điện ảnh, rất dễ tạo nội dung và dễ lan truyền trên mạng xã hội. Người ta đến đây không chỉ để nhìn biển. Người ta đến để chụp hình với biển. Sự khác biệt tưởng như rất nhỏ nhưng lại phản ánh hai cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau. Bởi biển trong trường hợp này không còn là trung tâm tuyệt đối nữa. Thứ được bán không phải bản thân biển. Thứ được bán là khung hình chứa biển. Một góc ban công nhìn xuống hoàng hôn. Một khoảnh khắc đứng giữa Cầu Hôn khi mặt trời chạm đường chân trời. Một bức ảnh chụp cáp treo đi qua mặt nước xanh. Những hình ảnh ấy không hẳn là trải nghiệm cá nhân nữa mà trở thành những đơn vị nội dung có khả năng tiếp tục sống sau chuyến đi, được chia sẻ, lưu trữ và lan truyền trên mạng xã hội.

Chiến lược này lại rất phù hợp với địa hình tự nhiên của Nam đảo. Khác với phía Bắc có xu hướng giữ lại không gian bằng rừng và địa hình cao thấp phức tạp, Nam đảo vốn mang tính mở rất mạnh: địa hình thấp, gió nhiều, ánh sáng mạnh, khí dường như liên tục thoát ra biển. Sun không đi ngược lại đặc tính ấy mà lựa chọn khuếch đại nó. Họ làm điều đó bằng những tuyến cáp treo ở trên cao, bằng quảng trường mở rộng, bằng mặt nước phản sáng, bằng các chương trình trình diễn ánh sáng và kiến trúc hướng thẳng về phía hoàng hôn. Họ lấy những gì vốn vô hình: gió, ánh sáng, khoảng không, hoàng hôn, rồi biến chúng thành cảnh tượng. Biến khí thành hình ảnh. Biến cảm giác thành trải nghiệm. Biến trải nghiệm thành ký ức thị giác. Và cuối cùng, biến ký ức ấy thành giá trị kinh tế.

Ngoài ra, nếu nhìn Nam đảo như một “đô thị trình diễn”, thì buổi tối chính là thời điểm hệ sinh thái Sun vận hành rõ nhất. Ban ngày, người ta đi biển, đi đảo, đi cáp treo; nhưng khi mặt trời xuống, không gian bắt đầu chuyển trạng thái. Nó không còn là biển theo nghĩa tự nhiên nữa, mà trở thành một sân khấu cảm giác. Ở khu vực Sunset Town, Cầu Hôn và quảng trường ven biển, buổi tối xuất hiện những “bữa tiệc âm thanh” theo đúng nghĩa của nó: nhạc nền phủ khắp không gian, tiếng nước, tiếng pháo hoa, các chương trình trình diễn đa phương tiện, ánh sáng phản chiếu trên mặt biển, tiếng người nói chuyện và dòng người di chuyển liên tục. Không gian ở đây không chỉ được xây bằng bê tông, kính hay đá. Nó còn được xây bằng âm thanh. Điều này cũng làm thay đổi cách con người cảm nhận thời gian. Trước đây, cư dân biển sống theo thủy triều và ánh sáng tự nhiên: trời sáng thì ra khơi, trời tối thì trở về. Nhưng trong không gian Sun, thời gian được điều khiển bằng lịch trình của trải nghiệm: giờ diễn, giờ nhạc lên, giờ pháo hoa, giờ hoàng hôn.

 

Và đó là điều tạo nên cảm giác rất lạ ở nam đảo vào ban đêm: bạn không còn cảm thấy mình đang đứng trong một thị trấn biển nữa. Nhiều lúc bạn có cảm giác mình đang bước vào một lễ hội kéo dài không có mùa, nơi biển không còn là nhân vật chính, mà trở thành phông nền cho ánh sáng, âm thanh và những cảm xúc được dàn dựng sẵn.

Hệ sinh thái Sun khiến nam đảo không còn là nơi người ta chỉ đến để ở, mà là nơi người ta đến để xuất hiện. Không chỉ để ngắm nhìn, mà còn để được nhìn thấy. Và đó có lẽ là một trong những cách rõ nhất để hiểu Nam Phú Quốc hiện tại: không phải như một vùng đất đang phát triển, mà như một sân khấu đang liên tục được dựng lại giữa biển.

Phú Quốc và câu hỏi về bản sắc của một điểm đến

Trong hơn mười năm trở lại đây, Phú Quốc đã chuyển mình với tốc độ mà có lẽ ngay cả những cư dân sinh ra trên đảo cũng khó hình dung. Từ một hòn đảo gắn với rừng nguyên sinh, làng chài, nhà thùng nước mắm, vườn tiêu, những con đường đất đỏ và những bến ghe lặng lẽ dưới ánh bình minh, Phú Quốc ngày nay đang hiện ra trước mắt du khách bằng một diện mạo hoàn toàn khác: những đại lộ rộng thênh thang, những tổ hợp nghỉ dưỡng hàng nghìn phòng, những khu phố Địa Trung Hải, những quảng trường châu Âu, những cây cầu biểu tượng, những công trình bê tông hoành tráng được chiếu sáng mỗi đêm như một sân khấu không bao giờ tắt. Nếu nhìn từ góc độ tăng trưởng kinh tế, đó chắc chắn là một thành tựu. Nhưng nếu nhìn từ góc độ văn hóa điểm đến, câu hỏi đặt ra là: sau tất cả những lớp bê tông, ánh sáng và kiến trúc nhập khẩu ấy, đâu là gương mặt thật của Phú Quốc?

Ngày nay, khách đến Phú Quốc có thể dễ dàng check-in tại những công trình khiến họ liên tưởng đến nước Ý, Tây Ban Nha hay miền nam nước Pháp. Họ có thể đi cáp treo vượt biển, chụp ảnh bên những quảng trường mang phong cách Địa Trung Hải, thưởng thức những show diễn công nghệ đẳng cấp quốc tế. Tất cả đều đẹp, hiện đại, thậm chí gây choáng ngợp. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: sau khi rời đi, điều gì khiến du khách nhớ rằng mình đã từng ở Phú Quốc, chứ không phải ở một công viên chủ đề nhiệt đới nào đó giữa châu Á?

Một điểm đến có thể gây ấn tượng bằng kiến trúc, nhưng chỉ có thể được nhớ lâu bằng bản sắc. Mình từng sống sáu tháng tại Chiang Mai, một thành phố không sở hữu những công trình hoành tráng hay những tổ hợp giải trí khổng lồ như nhiều điểm đến mới nổi khác ở châu Á. Nhưng điều khiến Chiang Mai giữ chân du khách, đặc biệt là những du khách lưu trú dài ngày và có khả năng chi tiêu cao, lại nằm ở một triết lý hoàn toàn khác. Ở đó, du khách không chỉ tham quan, họ được tham gia. Một buổi sáng, bạn có thể học nấu món cà ri Thái cùng một gia đình địa phương. Chiều đến, bạn có thể tham gia một lớp làm gốm, nhuộm vải, hay đơn giản chỉ là ngồi cà phê chill, tối đến, bạn có thể thong thả dạo chợ đêm. Nếu muốn đi sâu hơn, bạn có thể đăng ký một khóa yoga, massage Thái truyền thống kéo dài nhiều ngày hoặc nhiều tuần. Đối với mình, Chiangmai không cố gắng gây choáng ngợp, mà mời gọi du khách bước vào đời sống thực của nó. Và chính ở đó, du lịch không còn là tiêu dùng. Du lịch trở thành trải nghiệm văn hóa.

Khi đối diện với thực tế khách nội địa dần quay lưng, nhiều người đặt câu hỏi: vậy Phú Quốc có thể chuyển chiến lược sang thu hút khách quốc tế hay không? Nghe qua thì có vẻ hợp lý. Nhưng thực tế, tư duy ấy quá đơn giản. Đúng là Phú Quốc hoàn toàn có thể đón khách quốc tế theo dạng charter flight, khách đoàn, MICE, hay các tour nghỉ dưỡng ngắn ngày. Nhưng nếu nhắm đến những dòng khách thực sự có giá trị cao, những người đến từ châu Âu, Bắc Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, những người sẵn sàng ở một nơi từ hai tuần đến vài tháng, tiêu dùng có chiều sâu, học tập, chữa lành, làm việc từ xa, thì câu chuyện lại hoàn toàn khác.

Những nhóm khách này không chọn điểm đến chỉ vì nó có resort 5 sao, có bãi biển đẹp, hay có vài giải thưởng trên các chuyên trang du lịch quốc tế. Họ chọn nơi có cảm giác về một vùng đất không thể thay thế. Họ tìm kiếm những giá trị riêng: văn hóa bản địa, ẩm thực nguyên bản, lịch sử, con người, nghệ thuật thủ công, tri thức địa phương, cộng đồng sống thật, và khả năng kết nối sâu với nơi họ đang ở. Nói cách khác, khách cao cấp không đi tìm cái đẹp. Họ đi tìm cái thật.

Vì thế, những giải thưởng “hòn đảo đẹp nhất”, “điểm đến hàng đầu”, “top beach destination” trên các tạp chí du lịch có thể tạo hiệu ứng truyền thông, nhưng không phải là lý do khiến du khách quay lại nhiều lần. Một bảng xếp hạng có thể kéo khách đến một lần. Nhưng chỉ bản sắc mới khiến họ quay trở lại.

Vấn đề của Phú Quốc hiện nay không phải thiếu tiền đầu tư, thiếu hạ tầng hay thiếu công trình biểu tượng. Điều Phú Quốc đang thiếu, có lẽ, là một chiến lược phát triển du lịch gắn với cộng đồng địa phương. Sự phát triển kinh tế của một địa phương chỉ thực sự có ý nghĩa khi cộng đồng bản địa không đứng ngoài cuộc chơi. Với Phú Quốc, nơi du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, điều quan trọng không phải tiếp tục xây thêm bao nhiêu resort hay quảng trường, mà là tạo ra bao nhiêu sản phẩm du lịch mà cư dân địa phương có thể tham gia với tư cách người sáng tạo giá trị, chứ không chỉ là người phục vụ.

Phú Quốc thực ra sở hữu những chất liệu mà rất nhiều điểm đến khác không có. Đó là câu chuyện về Mạc Cửu và mạng lưới biển Tây. Đó là lịch sử hình thành của các làng chài như Hàm Ninh hay An Thới. Đó là những truyền thuyết về núi Hàm Ninh, về rừng nguyên sinh, về thủy thần, về tín ngưỡng thờ nữ thần biển, về những chuyến ghe đi theo con nước. Đó là tri thức lên men của nhà thùng nước mắm, là nghệ thuật trồng tiêu trên đất đỏ, là những bài thuốc dân gian từ rừng, là kinh nghiệm đọc gió, đọc mây, đọc biển của cư dân đảo. Tất cả những điều đó không thể bê tông hóa. Nhưng tất cả những điều đó hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm du lịch.

Một du khách có thể tham gia:

  • lớp làm nước mắm truyền thống kéo dài nửa ngày;
  • workshop nấu món biển Phú Quốc cùng người dân;
  • tour kể chuyện về lịch sử mở cõi Hà Tiên – Phú Quốc;
  • hành trình đi bộ đọc rừng, đọc thảo dược;
  • khóa retreat yoga, Ayurveda, bodywork gắn với địa khí đảo;
  • trải nghiệm ra khơi cùng ngư dân lúc 4 giờ sáng;
  • học làm tiêu muối, làm thảo dược, làm lưới, sửa ghe.

Khi đó, Phú Quốc không còn chỉ là nơi để check-in. Phú Quốc trở thành nơi để ở lại. Và có lẽ, trong tương lai của du lịch, điều giữ chân du khách lâu nhất sẽ không phải những công trình lớn nhất, mà là những câu chuyện thật nhất của một vùng đất. Phú Quốc có đủ tài nguyên để kể những câu chuyện ấy. Vấn đề chỉ là: liệu các nhà đầu tư có còn đủ kiên nhẫn để lắng nghe lời thì thầm của đảo, trước khi tiếp tục xây thêm một công trình mới?

Sophia Ngô

 

Tài liệu tham khảo

  1. Báo Sài Gòn Giải Phóng. (2023). Sau hàng chục năm, du lịch Phú Quốc vẫn loay hoay tìm bản sắc riêng. Truy cập từ https://dttc.sggp.org.vn/sau-hang-chuc-nam-du-lich-phu-quoc-van-loay-hoay-tim-ban-sac-rieng-post109309.html
  2. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. (2012). Lịch sử Phú Quốc qua tài liệu lưu trữ [The history of Phú Quốc through archival documents]. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật.
  3. Novak, R. (2022). Prison islands in the making of modern Indonesia and Vietnam: 1862–1979 [Review of the book by A. McCoy].
  4. Vu, T. H., Nguyen, D. N., & Uong, T. N. L. (2021). Phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Tạp chí Khoa học Xã hội, 8(276), 39–41.
  5. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang. (2016). Kế hoạch bảo vệ môi trường và hệ sinh thái đặc thù giai đoạn 2017–2020. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang.
  6. Báo Tuổi Trẻ. (2011). Chứng nhận nhãn hiệu cho tiêu Phú Quốc. Truy cập từ https://tuoitre.vn/chung-nhan-nhan-hieu-cho-tieu-phu-quoc-445831.htm
  7. Người Đưa Tin. (2026). Đại công trường không ngủ phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc. Truy cập từ https://www.nguoiduatin.vn/dai-cong-truong-khong-ngu-phuc-vu-apec-2027-tai-phu-quoc-204260508114312974.htm
  8. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. (2024). Thương cảng Hà Tiên. Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước. Truy cập từ https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/thuong-cang-ha-tien.htm
  9. IOP Conference Series: Earth and Environmental Science (Vol. 1028). (2022). Sustainable Development of Marine Environment and Coastal Zone in Vietnam: Challenges and Prospects. IOP Publishing.
  10. An, N., Anh, L., Tuyen, N., Ngoc, T., Dung, N., Hai, T., & Nguyen, P. (2026). Genetic diversity of black pepper genotypes in Phu-Quoc Island using SCoT markers and DNA barcodes. Plant Molecular Biology Reporter, 44. https://doi.org/10.1007/s11105-026-01677-8
  11. Trần, T. A. (2014). Thờ nữ thần ở đảo Phú Quốc: Từ tín ngưỡng thờ Bà Thủy đến tín ngưỡng thờ thánh mẫu. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, 127(1), 87–97.

15 Sự thật kinh tế, lịch sử và sức khỏe về thịt xông khói

Thịt xông khói không phải là món ăn tiêu biểu của bạn. Nhiều người có thể không nhận ra rằng hàng nghìn người Mỹ mừng Ngày Thịt Xông Khói Quốc Gia vào 30 tháng 12 hàng năm. Việc tôn vinh món ăn sáng chủ yếu bằng một ngày kỷ niệm có vẻ kỳ quặc, nhưng thịt xông khói không phải là món ăn tiêu biểu của bạn. Món ăn nhẹ ngon miệng đã trở thành nỗi ám ảnh về văn hóa và là nét đặc

Cụt Đuôi

07/07/2023

Các khía cạnh về sản xuất, chất lượng và an toàn của đồ uống Kombucha

Giới thiệu Sự phát triển của thức ăn và đồ uống dân gian có liên quan đến các nền văn minh đang phát triển trên toàn cầu. Bên cạnh việc chống lại cảm giác đói, cảm giác no và khẩu vị nói chung, các loại thực phẩm và đồ uống khác nhau thường được tiêu thụ vì những lợi ích sức khỏe đã được giả định và đã được chứng minh của chúng. Nước nóng chiết xuất từ lá khô của cây chè (Camellia sinensis),

Thuật trị nước trong bát bún thang

Sau mỗi dịp Tết, thừa gà đấy, thừa giò đấy, mà chán không muốn ăn, vì quá ngán ngẩm mâm cao cỗ đầy. Vậy làm gì với chỗ thức ăn thừa ấy bây giờ? Đổ đi thì không nỡ! Mà ăn cả miếng to thì không thể chịu được. Thế là các cụ nhà ta xé nhỏ thịt gà ra, thái chỉ giò lụa, thái chỉ củ cải muối, tráng trứng không dầu mỡ rồi thái lát mỏng, nấu cùng với nước dùng gà và

“Đắng cay và ngọt bùi” của Ellen Oxfeld: Câu chuyện ẩm thực & những biến động nông thôn miền Nam Trung Quốc trong nền kinh tế thị trường

Cảnh quan, môi trường sống, phong tục tập quán… và đặc biệt, đời sống ẩm thực của một cộng đồng đều là tấm gương phản chiếu những biến động xã hội, đặc biệt ở các vùng nông thôn đang đối mặt với làn sóng công nghiệp hóa và đô thị hóa. Qua những bữa ăn tưởng chừng đơn giản, chúng ta có thể thấy được những thay đổi sâu sắc trong tập quán, thói quen và cả mối quan hệ xã hội. Giáo sư nhân

Vì sao phải học lịch sử? (1998)

Peter N.Stearns Con người sống ở hiện tại. Họ vừa hoạch định cho tương lai, vừa lo lắng về nó. Trái lại, lịch sử lại nghiên cứu về quá khứ. Tất cả nhu cầu đều thôi thúc từ cuộc sống hiện tại và liệu trước những điều chưa xảy ra, vậy tại sao ta lại phải quan tâm đến quá khứ làm gì? Với tất cả phân ngành trong ước mơ và thực tại của tri thức, tại sao cứ nhất định (như hầu hết

Minh Tân

08/07/2021