Home Góc văn chương “Chinh phụ ngâm khúc” và lưỡng cực của Đặng Trần Côn

“Chinh phụ ngâm khúc” và lưỡng cực của Đặng Trần Côn

Thế kỷ 18 để lại dấu ấn vàng son trong lịch sử Việt Nam không chỉ bởi cuộc đại chiến quân Thanh, mà bởi những kiệt tác văn chương vô tiền khoáng hậu. Trong một xã hội biến loạn và chiến tranh liên miên, các kiệt tác văn chương đều quay lưng với hào khí và những vinh quang, để cúi đầu trước nỗi đau của con người. Nếu văn học trung đại Trung Quốc có tứ đại tuyệt tác tiểu thuyết thì Việt Nam ta có bộ ba tuyệt phẩm là “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn, “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều và  “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du. Các tác phẩm này vượt qua lối viết ngẫu hứng nhất thời của sáng tác theo lối Đường thi, thay vào đó là sự dụng công và trút toàn bộ tâm huyết cho thơ ca. Mặc dù, họ không coi thơ ca như sự nghiệp giống các nhà thơ hiện đại, nhưng họ đã tách bản thân khỏi con người Nho giáo với các chức trách công danh, để thực sự cất lên tiếng lòng của thời đại. Trong ba tuyệt tác ấy, “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn có thể nói, là tác phẩm mở đầu. Có lẽ, ông đã có sự ảnh hưởng nhất định đến Nguyễn Gia Thiều và Nguyễn Du, và đến các tác giả viết ngâm khúc, truyện thơ sau này. 

Đặng Trần Côn sống trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ 18, lúc này Đàng Ngoài nằm dưới sự cai trị của chúa Trịnh Giang, vị chúa đánh dấu bước suy vong của chính quyền Lê – Trịnh. Chúa Trịnh Giang khoét sâu thêm mâu thuẫn với vua Lê bằng những cuộc phế lập vua Lê, vì nghi kị mà sát hại công thần, trưng thu thuế của dân một cách hà khắc nhưng lại ăn chơi xa xỉ vô độ, xây cung điện hưởng lạc khắp nơi… Mặc dù chúa Trịnh Giang có những chính sách đổi mới được người đời sau đánh giá là có lợi cho dân và hòa hoãn với chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong, nhưng sự cai trị bất chính khiến xã hội loạn lạc, người dân đói kém, khởi nghĩa nổi lên liên miên. Đặng Trần Côn đã viết “Chinh phụ ngâm khúc” trong một thời đại như thế. 

Loạn thế đang đến 

Mở đầu “Chinh phụ ngâm khúc”, Đặng Trần Côn viết bốn chữ: 

“Thiên địa phong trần”

Câu thơ này mở ra một bối cảnh, và cũng là lời tiên tri: Loạn thế đang đến, chiến tranh đang đến, sau tất cả chỉ còn lại chia biệt đau thương.

Trong số các trước tác còn lưu lại, “Chinh phụ ngâm khúc” là lời thơ phản chiến đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam. Trước “Chinh phụ ngâm khúc”, đối với chiến tranh, các tác giả thường gắn với điệu hùng ca bi tráng của những cuộc chiến chính nghĩa như Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú” hay Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo”. Nhưng những cuộc binh biến kéo dài trong cuộc chiến Đàng Trong – Đàng Ngoài, cùng những cuộc đàn áp khởi nghĩa khắp nơi đã gieo vào trong tâm thức của những nhà Nho một cảm thức hồ nghi tính chính nghĩa của các cuộc chiến. Sự hồ nghi không được biểu đạt bằng phát biểu trực diện mang tính chất tuyên bố trực diện như các nhà thơ phương Tây, mà được bày tỏ bằng những biến chuyển của cảm xúc. 

“Chinh phụ ngâm khúc” thường được cho là viết theo thể tài chinh phụ, một thể tài quen thuộc trong văn thơ Á Đông trung đại. Thể tài chinh phụ đi vào thơ ca chữ Hán từ khá sớm, nhưng nổi bật nhất được biết đến là hai bài “Yên ca hành” của Tào Phi (187 – 226), vị vua đầu tiên của triều Tào Ngụy ở thời Tam Quốc phân tranh. Không rõ “Yên ca hành” được viết trong khoảng thời gian nào, nhưng với vẻ trong sáng của ngôn từ và cảm xúc dạt dào trong mỗi câu thơ, có lẽ tác phẩm đã được viết khi Tào Phi còn trẻ, chưa được sắc phong thế tử. Là một nam tử hán trong thời loạn, nhưng Tào Phi không viết các bản hùng ca ngợi khen chiến tích của cha mình, thơ ông tràn ngập nỗi buồn của biệt ly, nhung nhớ, cảnh đói rét của người lính chinh chiến. So với những bài thơ thể hiện chí khí, cốt cách quân tử của văn chương Kiến An thời đó, thơ Tào Phi thực sự là những tiếng lòng lạc lõng.

Trong “Yên phong ca”, cũng như Đặng Trần Côn trong “Chinh phụ ngâm khúc” sau này, lời người chinh phụ được cất lên đại diện cho chủ thể tác giả.

“Xào xạc hơi thu khí bạc màu

Cỏ cây rơi rụng đọng sương thâu

Én kêu trời nam nhạn chao mình

Nhớ chàng rong ruổi lòng đứt đoạn

Dằng dặc lòng chàng nhớ quê xa

Cớ sao trôi nổi kiếp không nhà.

Thiếp phận đơn côi căn phòng trống

Buồn dâng nhung nhớ chẳng nguôi lòng

Nào biết lệ rơi đầm xiêm áo” (1)

Âm hưởng nhớ nhung của người chinh phụ trong “Yên phong ca” của Tào Phi ảnh hưởng dài đến thơ Đường, mà dấu ấn còn sâu đậm trong các bài “Khuê tình” của Lý Bạch, “Khuê oán” của Vương Xương Linh, “Hữu sở tư” của Lý Hạ… Và đến thế kỷ 18, nỗi niềm này trở lại với Đặng Trần Côn trong “Chinh phụ ngâm khúc”. Tuy mỗi bài nhuốm một vẻ sầu nhớ khác nhau, nhưng tất cả đều chất chứa những nỗi oán than và hối hận vì thuở ban đầu đã để người chinh phu lên đường tìm công danh, chưa thấu nỗi đau của chia biệt. Một cách tinh tế nhưng khuấy động tâm can, các nhà thơ đã xoáy sâu vào nỗi hối hận này, làm bật lên sự tương phản giữa một bên là chí tang bồng hồ thỉ của nam nhi, một bên là cảnh ấm êm an bình bên người thương. 

Vương Xương Linh viết bài “Khuê oán” thế này:

“Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu.

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,

Hối giao phu tế mịch phong hầu.”

Có nghĩa là: Trong khuê phòng người thiếu phụ (còn trẻ tuổi) nào biết đến nỗi sầu, ngày xuân trang điểm bước lên lầu. Đầu đường chợt thấy màu dương liễu, lòng hối hận vì đã giục người chồng đi kiếm tước hầu. 

“Hận vô trường phòng súc địa thuật

Hận vô tiên tử trịch cân phù

Hữu tâm thành hóa thạch

Vô lệ khả đăng lâu

Hồi thủ trường đề dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu.

Bất thức ly gia thiên lý ngoại

Quân tâm hữu tự thiếp tâm phầu

Quân tâm thảng dữ thiếp tâm tự

Thiếp diệc ư quân hà oán vưu”

Dịch thơ:

“Hận chẳng rút đất ngắn tày gang

Hận chẳng gieo khăn hóa nhịp cầu

Lòng này đà hóa đá

Lên lầu mà lệ khô

Quay đầu lặng ngắm màu dương liễu

Thà chàng đừng mê mải phong hầu

Nào ngờ chia biệt ngàn dặm vắng

Lòng chàng há với thiếp cùng đau

Lòng chàng ví được đồng tâm thiếp,

Thiếp còn oán hận được chi đâu” (2)

Lời thơ đẫm lệ của nàng chinh phụ là sự lên án chiến tranh chạm vào tận sâu đáy hồn. Những cuộc chinh chiến với danh nghĩa “đền ơn chúa”, với “trừ bạo”, để “thỏa chí tang bồng” của đấng trượng phu trong con mắt của người thiếu phụ đều chỉ là một cái cớ mông lung của thuở còn nông nổi, một giấc mơ hư ảo. Những gì phải đánh đổi cho chiến công khải hoàn có cái giá quá đắt, là gian khó của người đi tìm kiếm tương lai trong vô vọng, là nỗi nhớ nhung dằng dặc của người ở lại, là cảnh yêu đương quấn quít êm ấm đang trong tầm nay mà nay vuột mất… Nỗi oán thương của người thiếu phụ chờ chồng đi chinh chiến phương xa, trong suốt nhiều thế kỷ trong dòng thơ chữ Hán ở Á Đông đã thực sự làm xô lệch những hào quang của hình mẫu anh hùng lý tưởng theo lối:

“Theo đòi Giới Tử đoạt Lâu Lan

Ngạo nhắm Man Khê noi Mã Viện” (2)

Sự yêu thích của các danh nho thế kỷ 18 đối với “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn cho thấy sức mạnh lay động của tác phẩm. Khi “Chinh phụ ngâm khúc” được viết nên, không rõ bằng hình thức nào, tác phẩm đã lan truyền trong giới nho sĩ. Đặng Trần Côn không phải con cháu quý tộc như Nguyễn Gia Thiều hay Nguyễn Du, cũng không phải con của đại thần chức cao vọng trọng như Ngô Thì Nhậm. Có lẽ con đường quan lộ của ông cũng không mấy suôn sẻ. Ông chỉ thi đỗ Hương cống, sau đó giữ chức huấn đạo nhỏ của một huyện, rồi làm tri huyện Thanh Oai, và đến gần cuối đời mới được giữ chức vụ trong ngự sử đài và chẳng bao lâu thì ông xin lui về nghỉ hưu dạy học tại làng Hạ Đình cho đến khi qua đời. 

Qua những ghi chép về Đặng Trần Côn trong “Tang thương ngẫu lực” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, ta thấy rằng ông sáng tác “Chinh phụ ngâm khúc” khi sắp qua đời. “Tang thương ngẫu lục” kể rằng khi tác phẩm được ra đời, bài thơ lan truyền sang cả khu vực Quảng Đông và Quảng Tây, các nhà nho Trung Quốc bình rằng “Tinh thần trút cả vào đây, tác giả bài này chẳng qua chỉ ba năm thì chết.” Lời này có thể là tiên tri, cũng có thể do đời sau đặt ra để tăng vẻ li kì, nhưng cũng đủ cho chúng ta biết thời điểm ông viết bài thơ “Chinh phụ ngâm khúc” là vào lúc gần cuối đời, sau khi đã nếm trải quan trường và văn tài xuất chúng đã được biết đến. Cùng thời với Đặng Trần Côn có ông Ngô Thì Sĩ nổi tiếng văn tài đệ nhất, nhưng khi đọc “Chinh phụ ngâm khúc”, ông đã thốt lên: “Văn này đánh đổ cả lão Ngô ta rồi”. (3) Thơ văn Ngô Thì Sĩ có hai đề tài chính, một là thể hiện ý chí và cốt cách của quân tử, hai là thể hiện nỗi nhớ thương vợ trong cảnh chia biệt. Thơ của họ Ngô lời lẽ đẹp đẽ và thẳng thắn, nhưng chưa chạm đến tầng sâu của cảm xúc. Có lẽ Đặng Trần Côn không chỉ đánh đổ vị trí hàng đầu trong văn đàn của Ngô Thì Sĩ mà còn làm lay động ý chí của trang quân tử muốn đeo đuổi công danh. 

Với sự ảnh hưởng như vậy, các nhà nho đương thời dịch thơ ông, ngâm ngợi thơ ông, và người đời sau nương vào cảm xúc trong “Chinh phụ ngâm khúc” mà sáng tác cũng là lẽ thường. Bản dịch thơ được biết đến nhiều nhất chính là bản phổ biến hiện nay. Bản dịch sang chữ Nôm được viết bằng thể thơ song thất lục bát được cho là của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1749) hoặc Phan Huy Ích. Đoàn Thị Điểm là một nữ sĩ danh tiếng, do đó, việc cho rằng bà đã dịch thơ ông sang tiếng Nôm là có cơ sở. Những giai thoại về bà và Đặng Trần Côn cũng được ghi lại trong “Tang thương ngẫu lục” rằng khi còn trẻ, Đặng Trần Côn từng mến tài đến thăm Đoàn Thị Điểm, nhưng bà Điểm khinh là thư sinh non trẻ nên không tiếp chuyện, từ đó ông tức khí về tu học thành tài. Bà là vợ ông Nguyễn Kiều, danh nho nổi tiếng một thời, khi ông mất, những học trò của ông lại theo học bà. Nhưng ở phần viết về bà, hai tác giả không nhắc đến “Chinh phụ ngâm khúc” mà chỉ nhắc đến các truyện truyền kỳ viết bằng chữ Hán của bà. Thơ của bà, ngoài bản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” được cho là bà dịch, không có tác phẩm nào bày tỏ nỗi niềm của chinh phụ. Hơn nữa, một nhà thơ “tiền bối” dịch tác phẩm của một nhà thơ “hậu bối” như một thực hành thơ Nôm trong sự nghiệp văn thơ chữ Hán đồ sộ của chính mình có phần khiên cưỡng. 

Trong khi ấy, Phan Huy Ích (1751 – 1822), nhà nho thế hệ sau đã dịch “Chinh phụ ngâm khúc” sang chữ Nôm, có nhiều khả năng là tác giả của bản dịch song thất lục bát phổ biến hơn. So với Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích sáng tác nhiều thơ Nôm hơn, lời thơ Nôm của ông đã đạt đến độ điêu luyện, bước phát triển tất yếu của các tác phẩm thơ Nôm nửa cuối thế kỷ 18. Lời thơ điêu luận của bản dịch Nôm “Chinh phụ ngâm khúc” phổ biến chắc chắn phải được viết bởi một người thường xuyên viết bằng chữ Nôm, bởi nếu không thì không thể có được lối vận dụng nhịp điệu và ngôn từ linh hoạt như vậy. “Tang thương ngẫu lục” nhắc đến bản dịch của Đoàn Thị Điểm mà không nhắc đến bản dịch của Phan Huy Ích dù cùng thời có lẽ vì nhiều lý do: hoặc là do Phan Huy Ích sáng tác sau giai đoạn “Tang thương ngẫu lục” được viết ra, hoặc có thể bởi hai tác giả của cuốn sách không ưa những quan lại theo Tây Sơn. Tuy nhiên, việc hai tác giả nhắc đến Đoàn Thị Điểm dịch “Chinh phụ ngâm ngúc” cũng không đủ để chứng minh bản dịch phổ biến là do bà viết. Người đời sau của chúng ta chỉ biết rằng có thể bà đã dịch tác phẩm này. Phan Huy Ích để lại nhiều dấu vết liên đới đến “Chinh phụ ngâm khúc” hơn. Ông để lại một bài thơ đề từ giãi bày tâm tư của mình khi dịch bài thơ:

“Nhân Mục tiên sinh “Chinh phụ ngâm”,

Cao tình dật điệu bá từ lâm.

Cận lai khoái trá tương truyền tụng,

Đa hữu thôi xao vi diễn âm.

Vận luật hạt cùng văn mạch tuý,

Thiên chương tu hướng nhạc thanh tầm.

Nhàn trung phiên dịch thành tân khúc,

Tự tín suy minh tác giả tâm.”

Có thể hiểu là: Khúc “Chinh phụ ngâm” của tiên sinh ở làng Nhân Mục, là tuyệt tác mà tình ở chỗ thanh cao điệu ở chỗ tinh diệu đã truyền bá khắp nơi, nhiều khách thơ cố diễn sang âm Nôm, nhưng không sao diễn được tinh túy trong mạch văn. Thế nên (ông) đã sắp đặt lại chương từ và nhịp điệu, dịch theo điệu mới, tự tin rằng đã biểu đạt được cõi lòng của tác giả”. 

Bài thơ này cũng thường được sử dụng như bằng chứng để khẳng định rằng Phan Huy Ích mới là tác giả của “Chinh phụ ngâm”. Có lẽ họ đã dựa trên thao tác dịch được ghi lại: “phiên dịch thành tân khúc”. Điều này hoàn toàn có cơ sở. Tân khúc ở đây có lẽ muốn nói đến hai thể thơ dân gian đã đi vào thơ quý tộc đó là lục bát và song thất lục bát. Trước khi Phan Huy Ích dịch “Chinh phục ngâm khúc”, các “tân khúc” này đã rất phổ biến, ví như Nguyễn Gia Thiều viết “Cung oán ngâm khúc” bằng thể song thất lục bát, Nguyễn Khản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” bằng thể lục bát (với địa vị của Nguyễn Khản dưới thời chúa Trịnh Sâm, chắc chắn bản dịch của ông cũng rất nổi tiếng), các truyện thơ Nôm bằng thể lục bát cũng được lưu truyền phổ biến…  Việc lựa chọn thể song thất lục bát cũng là lựa chọn hợp lý để chuyển soạn nhịp điệu theo lối nhạc phủ với các cặp câu dài ngắn khác nhau của “Chinh phụ ngâm”. 

Ít được biết đến ở thời nay hơn có lẽ là bản dịch lục bát của Nguyễn Khản, một bản dịch xuất sắc mà có lẽ lúc còn sống, các nhà nho cũng biết đến nhiều. Bản dịch của Nguyễn Khản cũng những câu thơ tuyệt tác, tôi cho rằng ít nhiều có ảnh hưởng đến Nguyễn Du khi ông viết “Đoạn trường tân thanh”. Ví dụ như:

“Tiễn đưa treo một gánh sầu,

Con thuyền chở nặng, vó câu nhẹ bồn.

Cẩm bào sùi sụt nỉ non,

Gót vàng còn bận, chén son nỡ lìa.”

hay

“Long Tuyền một cán vẫy vùng,

Ngựa ô mây quẹn, áo hồng sương xuyên.”

hay

“Kẻ đi mưa gió mịt mùng,

Kẻ về, chăn chiếu lạnh lùng phòng hương.

Tất niềm vò võ đôi phương,

Hàm Dương chàng ngóng, Tiêu Tương thiếp ngừng.”

hay

“Nương song, thở vắn, thở dài,

Như nung gan sắt, như mài lòng son.

Giấc nào thẳng, bữa nào ngon,

Hâm sầu làm thuốc, nấu buồn làm thang.

Chơi hoa hoa cũng bẽ bàng,

Dã dề cùng rượu, rượu càng lạt hơi.

Vì chàng chiếc bóng lẻ loi,

Vì chàng đũa ngọc sụt sùi đòi nau.” (4)

Hầu hết các bản dịch thơ “Chinh phụ ngâm” ở đời sau dù cố gắng đến mấy vẫn không vượt ra được công thức chuyển thành thơ lục bát và song thất lục bát bởi sự ảo diệu của âm điệu. Đến nỗi, cho đến tận thế kỷ 20, khi Tản Đà dịch thơ Đường và Phan Huy Vịnh dịch “Tì bà hành”, thơ chữ Hán vẫn thường được chuộng dịch bằng thể lục bát và song thất lục bát, đặc biệt là các bài được viết theo lối cổ phong. 

“Chinh phụ ngâm khúc” bản tiếng Hán và bản dịch song thất lục bát đã trở thành kinh điển trong tâm thức của văn nghệ sĩ Việt Nam. Có lẽ không lâu sau khi “Chinh phụ ngâm” phổ biến, trong chèo cổ xuất hiện điệu “Chinh phụ”. Điệu chèo “Chinh phụ” lời cổ không giữ nguyên vẹn tiếng Hán mà chêm vào câu Nôm “lang quân ơi”, và không dùng bản dịch song thất lục bát phổ biến hay bản lục bát của Nguyễn Khản. 

“Quân xuyên trang phục hồng như hà 

Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết 

Kiêu mã hề loan linh

Chinh cổ hề nhân hành 

Tu du trung hề đối diện 

Khoảnh khắc lý hề phân trình 

Phân trình hề hà lương

Tiền xa hề Bắc Tế Liễu, 

Hậu kỵ hề Tây Trường 

Dương Kỵ xa tương ủng quân lâm tái 

Dương liễu na tri thiếp đoạn trường

Khứ khứ lạc mai thanh tiệm viễn 

Hành hành chinh bái sắc hà mang 

Vọng vân khứ hề lang biệt thiếp 

Vọng sơn quy hề thiếp tư lang. 

Lang khứ trình hề mông vũ ngoại 

Thiếp quy xứ hề tạc dạ phòng 

Lang cố thiếp hề Hàm Dương 

Thiếp cố lang hề Tiêu Tương. 

Tiêu Tương yên cách Hàm Dương thụ 

Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương giang.”

“Áo chàng đỏ tựa ráng chiều tà

Ngựa chàng trắng tựa sắc tuyết pha

Ngựa phi kìa leng keng

Trống reo kìa đi rồi

Nấn ná mãi ôi chẳng rời

Mà bất chợt ôi phân ly

Phân ly ôi cách biệt

Dùng dằng ôi ngóng nhìn

Ngóng nhìn xa xăm kìa cờ bay bay

Xe trước này Bắc Tế Liễu

Ngựa sau này Tây Trường Dương

Xuất chinh xe ngựa đã lên đường

Đứt lòng thiếp liễu dương nào thấu

Bời bời mai rụng âm dần bặt

Xa xa cờ chiến sắc đã mờ

Ngóng mây bay ôi chàng biệt thiếp

Trông núi lại ôi thiếp đợi chàng.

Chàng viễn chinh kìa ngoài mưa gió

Thiếp lại về kìa quạnh thâu đêm

Chàng trông thiếp ôi Hàm Dương

Thiếp ngóng chàng ôi Tiêu Tương

Khói Tiêu Tương xa cây Hàm Dương

Cây Hàm Dương xa sông Tiêu Tương” (2)

Chinh phụ (Lời cổ) – NSUT Minh Phương – Ns :Quốc phòng phụ diễn 

Không giống như hát ả đào được các Nho sĩ ưa chuộng, chèo thuộc về sinh hoạt văn hóa dân gian. Điệu “Chinh phụ” lời cổ giữ nguyên âm Hán Việt ở chiếu chèo dân gian là một hiện tượng dị biệt, bởi vì hầu hết các làn điệu chèo đều sử dụng lời Nôm. Làn điệu “Chinh phụ” sau đó được đưa vào vở “Tấm Cám” khi hoàng tử nhớ nhung nàng Tấm với lời Nôm. Có khả năng rằng làn điệu này đã được chiếu chèo tiếp nhận từ nhạc sĩ khuyết danh. 

Cảm thức của người chinh phụ như một lời than dài phản chiến vẫn thổn thức đến thế kỷ 20. Một thoáng qua trong “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư cũng đủ khiến bài thơ thu đẹp nao lòng, khiến bức tranh thu nhuốm vẻ phương tây với “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” bỗng nhuốm màu sương bàng bạc của thủy mặc với “Hình ảnh kẻ chinh phu/Trong lòng người cô phụ”. Nhưng vẻ đẹp của “Chinh phụ ngâm” chỉ thực sự được tái hiện qua trường ca “Hòn vọng phu” của nhạc sĩ Lê Thương. Bản trường ca không phổ nhạc cho “Chinh phụ ngâm khúc”, mà mượn hình ảnh thơ và phong cách thơ của “Chinh phụ ngâm khúc” lồng ghép với biểu tượng hòn vọng phu:

“Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn,

Vui ca xang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.

Người đi ngoài vạn lí quang sơn,

Người đứng chờ trong bóng cô đơn.

Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,

Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng.

Người không rời khỏi kiếp gian nan,

Người biến thành tượng đá ôm con.”

Thái Thanh với Hòn Vọng Phu 1, 2, và 3 của Lê Thương – YouTube

Người đi, kẻ ở và sầu ly biệt 

“Yên ca hành” thể hiện sự nhung nhớ khắc khoải, “Khuê oán” thể hiện sự ngóng chờ và hối hận, “Hữu sở tư” ngơ ngẩn tiếc thời gian trôi chẳng giữ mãi vẻ xuân trong chia cách… mỗi bài thơ một vẻ, nhưng “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn chứa đựng muôn vẻ của chia biệt, từ những ngậm ngùi lúc chia tay, đến những đêm thổn thức, những chiều hiu quạnh, những oán hận số phận, những ngày xuân cô đơn, và cả những vọng tưởng trong cơn mơ về ngày thái bình gặp gỡ. Đặng Trần Côn cũng không thuần túy đi vào nỗi nhung nhớ, ông bày ra một tình cảnh của số phận: chiến loạn. 

“Thiên địa phong trần

Hồng nhan đa truân”

“Truân” là quẻ thứ ba trong Dịch, đứng sau “Càn” – “Thiên” và “Khôn” – “Địa”. Trong hai câu thơ đầu chứa đựng ba quẻ dịch: khi trời đất sinh đến tận cùng thì nạn sẽ đến. Trong tiếng Hán, chữ “An” được viết với tự hình chữ “nữ” ở dưới bộ “miên”, hàm ý người phụ nữ ở dưới mái nhà như biểu tượng cho sự êm ấm. Nhưng giờ đây nạn đến, loạn đã khởi, người phụ nữ không còn được êm ấm dưới mái nhà của mình. Không còn “an” nữa. Và ngay những câu thơ sau đó là cảnh chiến trận đang đến gần. 

“Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt,

Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.

Chín lần gươm báu trao tay,

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

Nước thanh bình ba trăm năm cũ,

Áo nhung trao quan vũ từ đây.

Sứ trời sớm giục đường mây,

Phép công là trọng niềm tây sá nào.”(5)

Không rõ vì lý do gì Đặng Trần Côn không viết về loạn thế diễn ra ở chính thời đại của ông mà mượn quang cảnh chiến trận ở kinh đô Trường An của triều đại Hán – Đường. Câu thơ “Nước thanh bình ba trăm năm cũ” không rõ ám chỉ thời đại nào. Đại nạn này là nạn giặc dữ xâm lấn bờ cõi, khiến vua trong đêm phải chống kiếm mong khởi sự, sai sứ đi tuyển binh. Tôi cho rằng, ba trăm năm thanh bình này có lẽ như một lời tiên tri rằng chiến loạn chắc chắn sẽ đến. Khoảng ba trăm năm về trước, đó là lúc nhà Lê lập quốc. Con số “ba trăm năm” này thường được cho rằng mang tính điển cố, nhưng lối dùng khoảng thời gian tượng trưng trong thơ Hán Đường thường là “bách niên” hoặc “thiên cổ” chứ không dùng khái niệm “tam bách niên”. Do đó, tôi cho rằng con số “tam bách niên” này hàm ý tiên báo, thậm chí là hiện thực. Chứng kiến một triều đại đang trên đà suy vong với loạn lạc liên tục, đó chính là nỗi truân chuyên của mỗi người dân mà Đặng Trần Côn đã chứng kiến lúc sinh thời. Qủa nhiên, ngay sau khi Đặng Trần Côn mất, triều đại Lê Trịnh đã đi đến tàn cuộc mà sau này Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều đã oán trách trong “Cung oán ngâm khúc”:

“Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.”

Trong loạn thế, triều đình là thế lực đầu tiên đối mặt trước an nguy, nhưng người dân vốn gắn bó lòng trung với triều đình cũng cần phải gánh vác: “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Đặng Trần Côn thông qua hai biểu tượng – người cô phụ chờ chồng và người chồng đi chinh chiến phương xa – đã bày tỏ hai tâm trạng của thời loạn. 

Người chinh phu được miêu tả bằng những câu thơ tuyệt mỹ với vẻ đẹp hào hùng, khuôn mẫu lý tưởng của bậc trượng phu:

“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,

Xếp bút nghiên theo việc đao cung.

Thành liền mong hiến bệ rồng,

Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.

Giã nhà đeo bức chiến bào,

Thét roi cầu Vị ào ào gió thu.” (5)

Nhưng vẻ đẹp hào hùng của người chinh phu ấy không còn mãi. Đặng Trần Côn đã thấu rõ ngay từ lúc chia biệt, người anh hùng đã nhen nhóm sự mềm yếu trong trái tim. Ngay cả khi lên gân “trọng pháp khinh ly biệt”, nỗi đau chia biệt đã tồn tại ở trong tâm khảm. 

“Tiễn đưa treo một gánh sầu,

Con thuyền chở nặng, vó câu nhẹ bồn.

Cẩm bào sùi sụt nỉ non,

Gót vàng còn bận, chén son nỡ lìa.” (4)

Trong cuộc tiễn đưa ấy, ý chí ban đầu đã nhanh chóng tiêu tan, chỉ còn một nỗi đoạn trường: “Thiếp ý quân tâm thùy đoạn trường”. Và khi đã lao vào cuộc chiến, lòng trung thành quyết đền ơn chúa cũng không còn dấu vết, chỉ còn đối mặt với những gian nan lao khổ, những cuộc tử chiến:

“Cõi ngoài từ diễn âm hao,

Nước non chưa biết chốn nào ngụ nương.

Xưa nay, ở áng chiến trường,

Đã đành gối bác, nằm sương dãi dầu.

Ít nhiều cơm ống nước bầu,

Trạng chinh phu ấy, ai hầu vẽ nên.

Cách chừng chướng vụ, lam yên,

Bên đường ngại kẻ băng miền biết sao.

Đông Tây từ trỏ ngọn đào,

Ruổi rong chưa biết trận nào thu công?

Xưa nay mấy kẻ anh hùng,

Mũi tên hòn đạn, đột xung những liều.

Bút nghiên đổi lấy cung đao,

Thuở vào ải Ngọc, chàng Siêu đã già.” (4)

Cũng chẳng còn ước vọng phong hầu, mà chỉ còn:

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.” (5)

Cảnh chinh chiến của trang nam nhi không được viết bằng lời của người chinh phu mà kể qua lời gửi gắm của người chinh phụ, nhưng những dòng thơ biên tái này chính là nỗi lòng của một người thấu rõ sự hư vô của sự đeo đuổi công danh như Đặng Trần Côn. Chí nam nhi với ông chỉ là một vọng tưởng, như giấc mộng phong hầu của chàng trai, thậm chí là một trói buộc trách nhiệm “quyết đền ơn chúa”, không phải chí nguyện tang bồng. 

Khi đọc những bài thơ khác của Đặng Trần Côn, tôi nhận ra ông có hai sắc thái rõ ràng. Một sắc thái có cái cốt cách khinh mạn và ngạo nghễ của trang quân tử thanh cao. Ông từng viết những câu như:

“Lãnh đạm thôn hào, bán xướng liễu bát vương chi thành bại

Tầm thường dã phẩm, sổ bôi tàn lưỡng Tấn chi thị phi.”

(Có nghĩa là: Món thôn quê nhạt nhẽo, nửa bữa đã xong cuộc thành bại của tám vị vương, Vị đồng nội tầm thường, mấy chén cũng tàn chuyện thị phi của hai triều Tấn)

hay 

“Càn khôn bôi lý kinh doanh, hãn thụy chi sơn hà dục động”

(Có nghĩa là: Xoay sở càn khôn trong chén rượu, làm cho một cõi non sông ngủ yên bên cạnh cũng muốn giật mình)

Đặng Trần Côn ý thức được cái tài, cái chí của mình. Nhưng ông cũng đủ tỉnh táo để thấu rõ nhân tình thế thái. Không chỉ viết “Chinh phụ ngâm”, ông viết rất nhiều thơ về sự biệt ly, mà câu nào cũng đớn đau. Tư liệu về cuộc đời ông không còn nhiều, do đó ta không thể biết được vì đâu ông lại viết nhiều thơ ly biệt đến thế. Ta có thể đọc một bài không mang tính biểu tượng, có lẽ là tình thực giữa đời thực.

“Giai ngoại ngân thiềm lâm ngọc án,

Giá lý tối thê lương đình viện,

Đới muộn sa song.

Hoa chủ ngã nhãn,

Bất quản thần hồn loạn.

Mãnh thính sương tiêu hàn khiếp nhạn,

Tâm bệnh xứ nhất trường ly oán,

Tưởng lãng độ thời quang.

Phương dung sấu tổn,

Ngộ thử phong lưu Hán.”

Tạm dịch thơ:

“Ngoài thêm trăng bạc soi bàn ngọc

Nhà cửa chốn đây thậm thê lương

Sầu đeo song the

Chúa hoa mòn mỏi

Nào hay thần hồn loạn.

Lặng nghe nhạn run lạnh gió sương

Tâm bệnh một cõi lòng ly biệt

Ngẫm uổng ánh thời trôi

Mặt hoa hao mòn

Lầm gặp kẻ phong lưu” (6)

Trong chùm bài thơ “Tiêu Tương bát cảnh” mà Đặng Trần Côn sáng tác để họa chùm tranh vẽ tám cảnh đẹp ở Tiêu Tương, ông cũng từng thốt lên sự chán ngán với con đường công danh:

“Đa thiểu nhân gian danh lợi mộng,

Hoà phong xuy quá Ngũ Hồ biên.” (7)

(Có nghĩa là: Ít nhiều giấc mộng danh lợi chốn nhân gian đều theo gió thổi sang bờ Ngũ Hồ)

Là một nhà nho bước vào dặm thanh vân, viết nên những câu thơ chán ngán công danh có lẽ là một tối kỵ. Có lẽ vậy mà Tào Phi phải mượn lời của người khuê nữ chờ chồng để bày tỏ nỗi chán ghét chiến trận của mình. Và Đặng Trần Côn cũng mượn lời người chinh phụ để giãi bày chính nỗi khổ của bậc trượng phu. 

Nhưng nhập vào vai người chinh phụ, Đặng Trần Côn đã đi đến tận cùng nỗi niềm của biết bao người vợ chờ chồng. Không giống người đàn ông còn vọng tưởng vào công danh, ngay từ ban sơ, nàng chinh phụ đã buồn chia biệt.

“Nước dưới cầu xanh trong quá

Nước xanh vây cỏ xanh xanh

Tiễn chàng đi ôi buồn dằng dặc

Chàng ruổi rong ôi thiếp hận chẳng như ngựa

Chàng lênh đênh ôi thiếp hận chẳng bằng thuyền

Con nước vời xanh xanh

Nào gột hết lòng sầu

Ngọn cỏ dầu xanh xanh

Nào nguôi được tim đau

Lời trao lời ôi chẳng rời tay

Bước mỗi bước ôi còn níu áo

Thiếp nguyện hóa trăng dõi bước chàng” (2)

Người vợ đành dứt lòng để chồng ra trận, nhưng ngay cả mong muốn được cùng chồng đồng cam cộng khổ cũng không được, nàng chỉ có thể nguyện ước được dõi theo, để hồn mình ở bên cạnh người chồng nơi biên tái. Nhưng đó chỉ là nguyện ước. Nàng phải cam phận giam mình ở quê nhà, thay chồng chăm phụ mẫu và dạy con thơ, cam phận với nỗi nhung nhớ miên man. Lúc thì nhớ về thuở xưa ríu rít, lúc thì nhớ về những ước hẹn lúc lên đường, lúc mong ngóng tin thư, lúc cố quên nhưng chẳng thể quên, sự chán nản đến thờ ơ mọi sự:

“Gượng làm quên, lại chẳng quên,

Mối sầu năm diễn, mạch phiền bể khơi.

Đài gương gượng ngắm khi rồi,

Thờ ơ trâm ngọc, đồi hôi mặt duềnh.

Lò vàng gượng đốt đêm thanh,

Hồn tiên mấy giống vẩn quanh khói trầm.

Gượng buồn, mong gảy khúc trầm,

Phím loan lai láng, tri âm lại đành.

Càng buồn mong gảy khúc tranh,

Nước non sầu nặng e mành dây uyên.

Niềm riêng khôn mượn gió truyền,

Càng phen xúc cảnh, càng phen động lòng.” (4)

Còn có những đêm khuya, chẳng còn gì ngoài sự cô độc lạnh lẽo:

“Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối,

Muộn chứa đầy hãy thổi làm cơm.

Mượn hoa mượn rượu giải buồn,

Sầu làm rượu nhạt muộn dồn hoa ôi.”

Và đỉnh điểm của nỗi cay đắng biệt ly chính là lúc xuân về, vạn vật sinh sôi nảy nở, muôn loài đều có đôi có cặp, nhưng người thiếu phụ vẫn lẻ bóng. Đây chính là “rạo rực hình ảnh kẻ chinh phu trong lòng người cô phụ” trong thơ Lưu Trọng Lư. Nỗi nhớ nhung này không chỉ chứa đựng tình mà còn xôn xao dục, và vì thế mà chia biệt càng thêm đau đớn, quằn quại đến tuyệt vọng. Trong cơn tuyệt vọng, nàng mộng thấy ngày khải hoàn, được đoàn tụ với chồng, được cởi bỏ chiến bào, cởi bỏ toàn bộ những vọng tưởng xa xưa để được sống lại những ngày đằm thắm:

“Ngày về rạng rỡ hoàng kim ấn

Thấu rõ thời gian nào quay lại

Xin vì chàng ôi cởi chiến bào

Xin vì chàng ôi nâng chén đào

Vì chàng chải tóc vấn hình mây

Vì chàng điểm trang màu bạch ngọc

Ôm chàng trông ôi dòng lệ cũ

Kể chàng nghe ôi điệu tình xưa

Điệu tình xưa ôi nay đã đổi

Lời mới chuyện xưa này cùng nâng chén

Rót rượu ta thong dong

Ca tràn ta liên miên

Rót lại rót này rượu bồ đào

Ca lại ca này thiên xích thố

Nguyện say muôn chén này cùng hát ca

Cùng chàng nguyên vẹn này mối duyên xưa

Nguyện ước kết đôi đến bạc đầu

Hoán đổi công danh bù xa cách

Yêu thương đùm bọc lúc thanh bình

Năm tháng thanh bình gác lại giáo gươm

Nào đâu còn thấy lệ ướt đầm.”

Song, đó chỉ là mộng. Cuộc gặp gỡ ấy chỉ trong mộng. Bởi vì hai câu thơ cuối cho thấy một lời ước: “Tương hội chi kỳ tương ký ngôn”, có nghĩa là mai sau gặp gỡ sẽ gửi gắm lời này. Còn gì đau đớn hơn khi rơi vào huyễn mộng, dù đó là mộng đẹp. Ở trong mộng chính là cái chết. Rời mộng lại quay về với khổ ải biệt ly. Bởi thế, trong cái kết của “Chinh phụ ngâm khúc” không có niềm vui, chỉ có một khoảng trống rỗng hư không của ảo ảnh. Cảm xúc con người đi từ quyến luyến, đến nhớ nhung, đến đớn đau, rồi mong mỏi và rồi kết thúc trong hư ảnh. Nhưng những cảm xúc ấy không chỉ là nỗi lòng của người thiếu phụ chờ chồng, nó là nỗi lòng của một con người trong loạn thế mong mỏi cảnh thái bình: từ hi vọng loạn thế sinh anh hùng, cho tới tiếc nhớ những vẻ đẹp thanh bình, và rồi mong ngóng “thái bình niên” sẽ tới, cuối cùng chỉ có thể gửi gắm vào mộng ảo. Dòng cảm xúc biến chuyển phức tạp này với những câu thơ tuyệt mỹ khuấy động tâm can đã thực sự khiến “Chinh phụ ngâm khúc” vượt qua mọi bài thơ thuộc thể tài chinh phụ trước đó trong thơ Hán Đường. 

Chàng chinh phu là ý chí của Đặng Trần Côn, nàng chinh phụ là xúc cảm thầm kín của Đặng Trần Côn. Ý chí đối mặt với hiện thực đã gục ngã, và đó là lúc xúc cảm trỗi dậy, cuồn cuộn như sóng thần bao trùm lên toàn bộ tâm cảnh. Nhưng cảm xúc đi đến tận cùng đã dừng lại trong mộng mà từ sâu thẳm vẫn biết đó là hư huyễn. Lời nàng chinh phụ cũng chính là lời của một con người chân chính trong thời loạn, một con người không cần phải khoác lên mình chiếc áo thanh cao của quân tử, và bởi thế lời thơ cũng trở thành tiếng lòng của nhiều người phụ nữ, những người bị gạt bên lề của lịch sử đầy nam tính yêu thích chiến chinh. Cũng bởi thế, lời thơ lay động tâm can của những người đàn ông đích thực, những con người biết quý trọng cảnh thanh bình hơn tất thảy mọi ước nguyện trên đời.

“Ta hồ trượng phu đương như thị.” (Than ôi, trượng phu vốn phải như vậy!)

Hà Thủy Nguyên

  1. Trích bản dịch “Yên phong ca kỳ 1 – Thu phong” của Hà Thủy Nguyên: https://hathuynguyen.com/yen-ca-hanh-ky-1-thu-phong-tao-phi/ 
  2. Trích bản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” của Hà Thủy Nguyên: https://hathuynguyen.com/ban-dich-moi-chinh-phu-ngam-khuc-cua-dang-tran-con/ 
  3. Trích “Tang thương ngẫu lục”, Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án, chương “Đặng Trần Côn”. 
  4. Trích bản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” của Nguyễn Khản
  5. Trích bản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” được lưu truyền phổ biến, được cho là của Đoàn Thị Điểm hoặc Phan Huy Ích. 
  6. Bài thơ “Vũ trung hoa – Xuân dạ hoài tình nhân” của Đặng Trần Côn
  7. Bài thơ “Yên tự vãn chung” nằm trong chùm thơ “Tiêu Tương bát cảnh” của Đặng Trần Côn

Đọc lại “Chinh phụ ngâm khúc” và chiêm nghiệm về chí nguyện hòa bình giữa thời loạn lạc

Khi Đặng Trần Côn (khoảng 1705-1745) viết “Chinh phụ ngâm khúc”, toàn cõi Việt đều chìm trong khói lửa chiến tranh và nội loạn, bối cảnh ấy đã thôi thúc ông viết một khúc trường thi tâm tình của người vợ xa chồng. Tâm tình này chạm vào cõi lòng không chỉ của những nữ sĩ, mà còn lay động tâm tư của nhiều bậc nam nhi. Hiệu ứng tác động này, nếu chỉ giới hạn ở lòng thương cảm của Đặng Trần Côn dành

Văn chương đích thực và tiểu thuyết hạ cấp ở Việt Nam

Nếu bạn là người thích đọc tiểu thuyết, bạn đi vào hiệu sách và dạo quanh một vòng, bạn sẽ thấy lẫn lộn những cuốn tiểu thuyết hạ cấp với văn chương đích thực. Thậm chí các tác phẩm văn chương sẽ bị để trong xó xỉnh, còn những cuốn tiểu thuyết thị trường lại nghiễm nhiên chiếm vị trí đẹp đẽ nhất trên giá sách. Đó là cách sắp xếp sách ở các trung tâm phát hành Việt Nam, từ nhà sách lớn như

TẢN ĐÀ VỚI “CẢM THU, TIỄN THU” VÀ THÂN PHẬN THU

Nói đến thơ ca Việt Nam đầu thế kỷ XX, không thể không nhắc tới Tản Đà. Trước khi làn sóng thơ mới của thế hệ Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu… tràn đến trên xứ sở này, Tản Đà có lẽ là người xứng với hai chữ thi sĩ nhất ở nước Nam. Người nổi danh về thi phú văn chương từ khi còn nhỏ tuổi, sớm đã có ý thức chỉ dựa vào cây bút mà nên nghiệp cả đời. Những năm 1920

Minh Hùng

17/12/2019

Lời cảm ơn của tác giả sách Hồi âm từ phương Nam (Tiểu luận phê bình, NXB Đà Nẵng – Book Hunter, 2023)

Xin kính chào quý thầy cô, quý anh chị đến dự buổi họp mặt hôm nay. Đây đơn giản là một buổi gặp gỡ trong vòng thân hữu để giới thiệu cuốn sách mới của chúng tôi là tập tiểu luận phê bình Hồi âm từ phương Nam do NXB Đà Nẵng và Công ty Truyền thông và Giáo dục Lyceum (Book Hunter) liên kết thực hiện. Hồi âm từ phương Nam là cuốn sách in riêng thứ 15 của chúng tôi, trong đó có

Book Hunter

24/03/2024

“Mê hồn ca”, “Lạc Hồn ca”, “Sông núi giao thần” – Ba trải nghiệm nhập định của Đinh Hùng

Thơ Đinh Hùng là một thế giới kỳ quặc, bởi thơ ông không dừng ở cảm xúc, tư tưởng hay thủ pháp. Ông đi xa hơn những cơn điên tinh thần của trường phái thơ Loạn trước 1945 với những Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê. Ông đi xa hơn cả cơn say của người bạn thân Vũ Hoàng Chương. Vậy điểm đến của thơ Đinh Hùng ở đâu? Tôi xin được định vị: cõi siêu nhiên. Cõi siêu nhiên ấy được thể