Home Ngẫm Điều gì xảy ra khi không ai tương tác với trẻ

Điều gì xảy ra khi không ai tương tác với trẻ

Vào khoảng chín tháng tuổi, hầu hết trẻ sơ sinh bắt đầu làm một điều mà các nhà khoa học phát triển coi là một trong những cột mốc quan trọng nhất của nhận thức sơ khai: chúng chỉ vào một vật và quay đầu nhìn lại khuôn mặt của người lớn gần đó. Không phải để xin vật đó — chúng chưa hiểu rằng hành động chỉ tay có thể là một yêu cầu. Chúng nhìn lại để chia sẻ. Cái nhìn đó là một câu hỏi: bố/mẹ có thấy cái kia không? Nếu người lớn nhìn theo hướng tay chỉ, đặt tên cho vật đó, đáp lại bằng một khuôn mặt nói rằng ừ, thấy rồi — đứa trẻ trông có vẻ thỏa mãn, đôi khi phát ra âm thanh như thể đồng tình, rồi lại chỉ sang thứ khác. Hành vi này, được gọi là chú ý chung (joint attention), là một trong những hình thức hội thoại sớm nhất mà con người từng có.

Tại một thời điểm nào đó trong thập kỷ vừa qua, thứ người lớn nhìn vào — thay vì nhìn theo hướng tay đứa trẻ chỉ — đã trở thành chiếc điện thoại.

Điều gì xảy ra với đứa trẻ trong khoảnh khắc đó, và trong sự tích lũy của hàng nghìn khoảnh khắc như vậy qua những năm đầu đời, là điều mà khoa học phát triển đã dành hai thập kỷ để đo đạc kỹ lưỡng.

Bộ não được xây dựng qua trao đổi

Để hiểu điều gì bị mất khi người lớn quay mặt đi và không chú ý đến trẻ nữa, cần hiểu trước những gì đang diễn ra khi sự chú ý còn hiện diện.

Edward Tronick, nhà tâm lý học phát triển tại Đại học Harvard, đã thiết kế một thí nghiệm vào thập niên 1970 và từ đó đến nay không ngừng được tái thực hiện và nghiên cứu. Một người mẹ ngồi đối diện với đứa trẻ sơ sinh và tương tác bình thường — mỉm cười, đáp lại, bắt chước các biểu cảm và âm thanh của con. Sau đó, theo hiệu lệnh, bà trở nên vô cảm. Không tức giận, không buồn bã. Chỉ là im lặng: một khuôn mặt trung tính, không phản ứng, không giao tiếp bằng mắt. Những đứa trẻ nhận ra ngay lập tức. Chúng cố gắng kéo bà trở lại — với tay, phát ra tiếng, chỉ trỏ. Khi những cố gắng đó thất bại, chúng quay đi, gù người xuống và bộc lộ sự khó chịu rõ ràng. Thí nghiệm chỉ kéo dài vài phút. Một số trẻ vẫn cần thời gian để bình tĩnh trở lại ngay cả sau khi người mẹ tiếp tục tương tác bình thường.

Điều Tronick chứng minh rất cụ thể: bộ não đang phát triển được hiệu chỉnh, ngay từ những tuần đầu tiên của cuộc đời, để thích nghi với một thế giới phản hồi lại nó. Một đứa trẻ bập bẹ và nhận được phản hồi tương xứng — một biểu cảm bắt chước lại, một cái nghiêng người về phía trước, một lời nói — không chỉ đơn giản là đang trải nghiệm sự ấm áp. Sự trao đổi đó chính là cơ chế mà qua đó kiến trúc thần kinh não bộ được hình thành. Phản hồi đó nói với bộ não rằng những gì nó phát ra đều có tác động, rằng thế giới xã hội có thể được đọc hiểu, rằng giao tiếp là có ý nghĩa. Không có phản hồi, không một bài học nào trong số đó có thể tiếp cận được.

Dimitri Christakis, nhà thần kinh học nhi khoa tại Viện Nghiên cứu Nhi đồng Seattle, người đã nghiên cứu sự phát triển não bộ sơ khai trong hơn hai thập kỷ, diễn đạt điều này như sau: sự tương tác của người chăm sóc trong ba năm đầu đời không phải là sự làm giàu trí tuệ. Đó là cơ sở hạ tầng. Một màn hình, bất kể hiển thị gì, không thể phản hồi khuôn mặt, giọng nói, hay câu hỏi vụng về của một đứa trẻ cụ thể. Nó trình chiếu cùng một nội dung dù đứa trẻ đang tò mò, đau khổ, bối rối hay vui mừng. Đó không phải là khiếm khuyết trong thiết kế màn hình — mà đơn giản là sự khác biệt giữa một phương tiện truyền thông và một con người. Với người lớn, sự phân biệt này không đáng kể. Nhưng với bộ não đang trong giai đoạn điều chỉnh liên kết thần kinh ở tốc độ sẽ không bao giờ được lặp lại, đó là sự khác biệt giữa việc có hay không có nguyên liệu cho sự phát triển.

Khi sự trao đổi biến mất

Năm 2020, Common Sense Media — một tổ chức phi lợi nhuận theo dõi thói quen sử dụng phương tiện truyền thông trong các gia đình Mỹ từ năm 2011 — đã công bố cuộc điều tra về trẻ em từ 0 đến 8 tuổi. Trẻ em trong độ tuổi đó đang dành trung bình hai giờ hai mươi bốn phút mỗi ngày cho các phương tiện màn hình. Năm 2011, con số này chỉ hơn một tiếng một chút. Riêng với trẻ dưới hai tuổi, 35% đang dành ít nhất một tiếng mỗi ngày trước màn hình. Hướng dẫn năm 2019 của Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị không cho trẻ dưới hai tuổi xem màn hình, và không quá một tiếng mỗi ngày cho trẻ từ ba đến bốn tuổi.

Mỗi phút dành cho màn hình là một phút không được dành cho sự trao đổi với con người. Jill Gilkerson và nhóm nghiên cứu của bà tại LENA Research Foundation đã nghiên cứu cụ thể điều này trong một nghiên cứu năm 2017 được đăng trên tạp chí Pediatrics. Họ cho hơn 1.000 trẻ từ 0 đến 4 tuổi đeo các máy ghi âm nhỏ suốt cả ngày, ghi lại tất cả mọi thứ trong môi trường âm thanh xung quanh — các cuộc trò chuyện, tiếng TV nền, các cuộc điện thoại của người lớn, những âm thanh của chính đứa trẻ. Các nhà nghiên cứu sau đó phân tích yếu tố nào dự đoán được kết quả ngôn ngữ và nhận thức ở tuổi lên năm. Câu trả lời không phải là tổng số từ mà đứa trẻ được nghe. Mà là số lượt trao đổi qua lại — những lần tương tác hai chiều giữa trẻ và người chăm sóc, khi đứa trẻ nói gì đó và người lớn đáp lại, hay người lớn hỏi điều gì đó và đứa trẻ đáp lại. Những đứa trẻ dành nhiều giờ gần chiếc TV đang chạy, hoặc ở trong phòng khi cha mẹ đang nói chuyện điện thoại, hấp thu ngôn ngữ một cách thụ động. Sự tiếp xúc thụ động đó cho thấy khả năng dự đoán yếu đối với kết quả về sau. Những lượt trao đổi — những khoảnh khắc tương tác thực sự — mới là điều quan trọng. Và những lượt trao đổi đó không thể xảy ra khi một bên đang chú tâm vào màn hình.

Sự thiếu hụt ngôn ngữ là tổn thất đầu tiên. Tổn thất thứ hai là về hành vi. Brandon McDaniel tại Đại học Illinois State và Jenny Radesky tại Đại học Michigan đã theo dõi 170 gia đình theo thời gian trong một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Child Development năm 2018. Những bậc phụ huynh báo cáo mức độ “technoference” cao hơn — thuật ngữ của họ dành cho các gián đoạn bởi công nghệ trong thời gian cha mẹ tương tác với con — có những đứa trẻ biểu hiện nhiều vấn đề hành vi hơn, hiếu động thái quá hơn và khó tập trung hơn trong các đợt theo dõi tiếp theo. Các nhà nghiên cứu thừa nhận sự khó khăn trong việc xác định hướng nhân quả: những đứa trẻ khó chăm sóc hơn có thể khiến cha mẹ dùng điện thoại nhiều hơn, chứ không chỉ ngược lại. Nhưng mối liên hệ đó vẫn giữ vững qua nhiều phân tích khác nhau. Một đứa trẻ liên tục bị từ chối những cố gắng kết nối sẽ không chấp nhận sự im lặng. Chúng “leo thang căng thẳng” — ồn ào hơn, kiên quyết hơn, đôi khi bằng hành động thể chất như giãy nảy ăn vạ — bởi vì leo thang là chiến lược hợp lý duy nhất có sẵn. Khi leo thang cũng thất bại, chúng ngừng cố gắng. Cả hai kết quả đều không tốt.

Tổn thất thứ ba là tổn thất được đo lường có hệ thống nhất. Năm 2019, Sheri Madigan và nhóm nghiên cứu của bà tại Đại học Calgary đã công bố một nghiên cứu trên tạp chí JAMA Pediatrics theo dõi 2.441 trẻ em từ hai đến năm tuổi. Thời gian sử dụng màn hình nhiều hơn ở tuổi hai có liên quan đến tăng 60% khả năng cha mẹ báo cáo chậm phát triển giao tiếp ở tuổi ba. Ở tuổi năm, những trẻ có thời gian màn hình cao hơn từ sớm cho thấy điểm thấp hơn về giao tiếp, kỹ năng vận động và giải quyết vấn đề trong các bài đánh giá sàng lọc phát triển — sau khi đã loại trừ yếu tố thu nhập hộ gia đình và trình độ học vấn của cha mẹ. Christakis, dựa trên những phát hiện như thế này, đã đề xuất cái ông gọi là giả thuyết thay thế: tác hại không phải là những gì màn hình làm với não bộ của đứa trẻ. Mà là những gì màn hình ngăn không cho xảy ra — những lượt trao đổi, những phản hồi, những cuộc giao tiếp mà Gilkerson đã chỉ ra là động cơ thực sự của sự phát triển. Màn hình chiếm lấy thời gian mà đáng lẽ ra được dành cho sự phát triển.

Các hậu quả nếu sự không chú ý diễn ra lâu dài

Thí nghiệm khuôn mặt vô cảm của Tronick được thiết kế để kéo dài vài phút. Sự đau khổ mà nó tạo ra là tức thì và có thể quan sát được. Điều Tronick cũng ghi lại, qua các lần tái thực hiện sau đó, là một mô hình tích lũy: những đứa trẻ trải qua khuôn mặt vô cảm nhiều lần cho thấy phản ứng đau khổ xuất hiện sớm hơn và mất nhiều thời gian hơn để phục hồi. Một lần thiếu phản hồi để lại dấu vết khác với hàng chục lần được phân bổ qua nhiều tuần.

Các nghiên cứu từ đó đã cố gắng trả lời ở quy mô lớn: khuôn mặt vô cảm tạo ra hậu quả gì khi nó không phải là điều kiện phòng thí nghiệm mà là một phản ứng lặp đi lặp lại của đời sống hàng ngày?

Christakis và đồng nghiệp Frederick Zimmerman đã công bố một nghiên cứu trên tạp chí Pediatrics năm 2004 sử dụng dữ liệu từ Khảo sát Dọc Quốc gia về Thanh thiếu niên Mỹ, bao gồm 1.278 trẻ được theo dõi từ khi còn sơ sinh đến giữa thời thơ ấu. Với mỗi giờ xem TV mỗi ngày ở độ tuổi một và ba, đứa trẻ cho thấy mức tăng 10% các vấn đề về chú ý ở tuổi bảy. Nghiên cứu này đo lường việc xem TV — điện thoại thông minh chưa tồn tại vào thời điểm đó. Nhưng các vấn đề về chú ý ở tuổi bảy không phải do nội dung được xem khi một tuổi. Chúng là dấu vết dài hạn của những giờ không được dành cho những trao đổi xây dựng khả năng duy trì sự chú ý.

Linda Pagani tại Đại học Montréal đã công bố một phát hiện bổ sung vào năm 2010, dựa trên nghiên cứu dọc về phát triển trẻ em của Quebec — một nhóm trẻ em được theo dõi từ khi sinh ra đến những năm đầu đi học. Những trẻ xem TV nhiều hơn ở tuổi hai cho thấy điểm từ vựng thấp hơn, thành tích toán kém hơn, mức độ tham gia trong lớp học thấp hơn, và tỷ lệ bị bạn bè bắt nạt cao hơn ở giai đoạn mẫu giáo và lớp hai. Những kết quả đó được đo lường bốn đến sáu năm sau khi dữ liệu thời gian màn hình ban đầu được thu thập. Mỗi giờ xem thêm mỗi tuần ở tuổi hai tương ứng với những sự khác biệt có thể đo lường được về việc đứa trẻ là ai trong lớp học nhiều năm sau đó.

Tìm hiểu thêm về cuốn “7 Bài học rưỡi về não bộ” – Lisa Feldman Barrett

Link đặt sách: 7 Bài học rưỡi về não bộ – Lisa Feldman Barrett
– Book Hunter Lyceum

Suy ngẫm cuối bài

Các nghiên cứu không lập luận rằng một buổi chiều xao nhãng sẽ gây ra tổn hại lâu dài, hay rằng một bậc phụ huynh đưa điện thoại cho con để có thể chuẩn bị bữa tối là đang thất bại với con mình. Nghiên cứu nói rằng: sự trao đổi qua lại giữa một đứa trẻ nhỏ và một người lớn biết phản hồi chính là cơ chế mà qua đó ngôn ngữ được xây dựng, khả năng điều tiết cảm xúc được học hỏi, và năng lực nhận thức được đặt nền móng. Cơ chế đó không mong manh. Nhưng nó cần có thời gian, và những gì chiếm lấy thời gian đó thay thế nó đều có hệ quả.

Bậc phụ huynh muốn con mình tò mò, nói năng lưu loát, kiểm soát được sự bực bội, duy trì sự chú ý trong lớp học — thì cần nỗ lực đã đạt được điều đó. Nỗ lực không tốn kém tiền của, không cần chuyên gia, nhưng cần sự kiên trì từ khi đứa trẻ sơ sinh chỉ trỏ những lần đầu tiên. Đó là khuôn mặt nhìn theo hướng ngón tay. Giọng nói đặt tên cho sự vật. Mười giây phản hồi nói với bộ não đang phát triển: câu hỏi của con đã đến được với bố mẹ, và bố mẹ đã trả lời.

Vào khoảng chín tháng tuổi, hầu hết trẻ em học được rằng chỉ vào một thứ gì đó và bắt gặp ánh mắt của người lớn sẽ đưa chúng vào trải nghiệm chung về thế giới. Chúng tiếp tục làm vậy, với sự tinh tế ngày càng tăng, trong nhiều năm. Chúng không xin thông tin. Chúng đang tìm kiếm một người đồng hành trong công việc hiểu tất cả mọi thứ. “Liệu có ai nhìn lại và trả lời con không hay không”, hoá ra, là một trong những câu hỏi có hệ quả sâu xa nhất của ba năm đầu tiên cuộc đời một con người.

Tài liệu tham khảo

  1. Tronick, Edward Z., Heidelise Als, Lauren Adamson, Susan Wise, and T. Berry Brazelton. “The infant’s response to entrapment between contradictory messages in face-to-face interaction.” Journal of the American Academy of Child Psychiatry, 1978.

  2. Common Sense Media. The Common Sense Census: Media Use by Kids Age Zero to Eight. 2020. https://www.commonsensemedia.org/research/the-common-sense-census-media-use-by-kids-age-zero-to-eight-2020

  3. World Health Organization. Guidelines on Physical Activity, Sedentary Behaviour and Sleep for Children under 5 Years of Age. 2019. https://www.who.int/publications/i/item/9789241550536

  4. Gilkerson, Jill, Jeffrey A. Richards, Steven F. Warren, et al. “Mapping the early language environment using all-day recordings and automated analysis.” Pediatrics, 2017.

  5. Hart, Betty, and Todd R. Risley. Meaningful Differences in the Everyday Experience of Young American Children. Brookes Publishing, 1995.

  6. McDaniel, Brandon T., and Jenny S. Radesky. “Technoference: Parent distraction with technology and associations with child behavior problems.” Child Development, 2018. https://doi.org/10.1111/cdev.12822

  7. Madigan, Sheri, Brae Anne McArthur, Ciana Anhorn, Rachel Eirich, and Dimitri A. Christakis. “Associations between screen time and children’s health, development, and well-being: a systematic review.” JAMA Pediatrics, 2019. https://doi.org/10.1001/jamapediatrics.2019.1524

  8. Christakis, Dimitri A., Frederick J. Zimmerman, David L. DiGiuseppe, and Carolyn A. McCarty. “Early television exposure and subsequent attentional problems in children.” Pediatrics, 2004. https://doi.org/10.1542/peds.113.4.708

  9. Pagani, Linda S., Caroline Fitzpatrick, Tracie A. Barnett, and Eric Dubow. “Prospective associations between early childhood television exposure and academic, psychosocial, and physical well-being by middle childhood.” Archives of Pediatrics & Adolescent Medicine, 2010. https://doi.org/10.1001/archpediatrics.2010.50

 

Điện thoại thay bảo mẫu: cha mẹ thành phố đang thực sự xoay xở điều gì khi đưa điện thoại cho con chơi

Một người mẹ ngồi tại bàn cà phê ở phố cổ Hà Nội. Đứa con trai khoảng bốn tuổi ngồi kẹp bên cạnh trên ghế băng. Chị đang nghe điện thoại công việc. Thằng bé đang dùng iPad để xem YouTube cho trẻ em với những video nhảm nhí, thỉnh thoảng lại vỗ vào tay mẹ. Chị bảo con ngồi yên rồi quay lại điện thoại. Hai mẹ con không nói chuyện với nhau thêm một câu nào trong suốt hai mươi phút sau đó.

Trẻ em phải đối mặt với những hạn chế của pháp luật

Trẻ em sinh ra đã bất lực và hoàn toàn phụ thuộc vào người lớn. Do đó, luật pháp dóng vai trò rất cần thiết trong việc bảo vệ trẻ em, tạo cơ hội cho trẻ em và cho phép trẻ em có tiếng nói trong các quyết định liên quan. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề. Đi tìm sự cân bằng giữa bảo vệ và độc lập Con người không giống như những loài khác Trẻ

Đứa trẻ học vuốt màn hình trước khi học chờ đợi

Một đứa trẻ hai tuổi nhặt điện thoại của mẹ lên, vô tình mở khóa, và trong vòng ba mươi giây đã tìm thấy một video về ai đó đang bóp vỡ túi khí bong bóng. Bé vuốt. Một chú chó hoạt hình ngã xuống vũng nước. Lại vuốt. Slime đang bị bóp. Người mẹ đứng nhìn từ cửa, cảm thấy một niềm tự hào nhỏ dâng lên — con tự mình tìm ra được cách dùng điện thoại đấy. Cảm giác tự hào đó

Trẻ em đọc sách trong không gian “nhóm cùng suy tư”

Bài viết này để tiếp nối những chia sẻ cũng như những điều “dường như khó nói ra” ở buổi trò chuyện Để trẻ em vui thú với tri thức do Book Hunter tổ chức ở thành phố Hà Tĩnh. Với những kinh nghiệm trong công việc làm giáo dục, tôi đã đề cập với mọi người về “việc đọc cần được tạo môi trường và có sự đồng hành” với một số những việc làm cụ thể mà tôi đã thực hiện để xây