Home Chuyên đề tháng Một thoáng hiện sinh trong “Cung oán ngâm khúc” của Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều

Một thoáng hiện sinh trong “Cung oán ngâm khúc” của Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều

Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều là một trường hợp độc đáo trong lịch sử Việt Nam mà chưa từng được tôn vinh xứng tầm. Ông thường được biết đến đơn thuần như một nhà thơ, tác giả của “Cung oán ngâm khúc”, một trường thi nói về nỗi đớn đau của người phụ nữ bị trói buộc trong cung cấm. Ở chiều hướng tích cực, tác phẩm được hiểu như lòng nhân ái, thương cảm của Nguyễn Gia Thiều với những số phận phụ nữ bất hạnh trong cung cấm. Ở chiều hướng tiêu cực, nhiều nhà phê bình cho rằng, Nguyễn Gia Thiều mượn “Cung oán ngâm khúc” như một ngầm trách đối với vua Lê hoặc chúa Trịnh Sâm vì đã từng sủng ái rồi ghẻ lạnh ông. Chiều hướng tiêu cực này mang tính chất võ đoán, và dường như bỏ qua tất cả các giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Tôi cho rằng những nhà phê bình đưa ra giả thuyết này không hề cảm nhận được vẻ đẹp trong những câu thơ của ông. Và ngay cả chiều hướng tích cực, coi “Cung oán ngâm khúc” là lời khóc thương cho thân phận của người phụ nữ, tôi nghĩ rằng, chúng ta đã bỏ lỡ những câu thơ triết lý sâu sắc, có thể nói là tinh túy của “Cung oán ngâm khúc”. Nhà phê bình uy tín đầu tiên đã đặt lại cách hiểu “Cung oán ngâm khúc” chính là Đỗ Lai Thúy trong tiểu luận “Đối thoại với bóng” của ông. Dùng phân tâm học Carl Jung, ông đã phân tích mức độ phức tạp trong tâm thức sáng tác của Nguyễn Gia Thiều, nhưng bài phê bình chạm vào một phần của trạng thái sáng tác, chưa giải mã được những ẩn tình đằng sau tác phẩm. (1)

Nhưng trước khi đi vào phân tích chiều sâu của “Cung oán ngâm khúc”, tôi muốn mở ra một cái nhìn khác về ông, chính ông, không phải “bóng âm” của ông. Tôi đã viết một cuốn tiểu thuyết dã sử về cuộc đời ông, chắp vá từ những mảnh ghép khác nhau mà tôi nhặt nhạnh được trong quá trình tìm tòi. Cuốn tiểu thuyết có tên “Thiên địa phong trần”, với những điềm báo loạn thế nối tiếp nhau, và trong loạn lạc gia tăng ấy, tôi đã hình dung ra Nguyễn Gia Thiều sống một cuộc đời bất lực trước định mệnh dù tài năng tuyệt đỉnh. Thấp thoáng trong tiểu thuyết, tôi có đưa ra những luận giải về “Cung oán ngâm khúc” theo cách của mình. Nhưng tiểu thuyết vẫn là tiểu thuyết, không phải tiểu luận, tiểu thuyết không phải là chỗ để phân tích và giải mã tác phẩm. Vì thế, tôi dành bài viết này không phải để sáng tạo nhằm thỏa mãn những chất vấn tinh thần theo lối hình tượng của độc giả tiểu thuyết, mà để dẫn dắt độc giả đi vào thế giới sáng tạo của ông, một thế giới hầu như vẫn bị bủa vây bởi bóng tối của thời đại, mà dù chỉ hé lộ đôi chút cũng đã lấp lánh gợi cảm. 

Ôn Như hầu không phải một nhà nho tài tử

Có một khái niệm đã bao phủ lên văn học Việt Nam từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20: “nhà Nho tài tử”. Mô tuýp nhà Nho tài tử được nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học hiện đại danh tiếng như Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương… sử dụng như một lăng kính để giải mã các hiện tượng như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà, Phan Bội Châu… Có thể hiểu nhà nho tài tử như một khái niệm để chỉ những nhà nho không đeo đuổi công danh mà đeo đuổi cái tài, cái thú của riêng mình. Họ cũng không phải các bậc túc nho hành đạo như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm vì gặp thời loạn nên vui với cảnh nhàn dật. (1) Mô tuýp “nhà Nho tài tử” là một lăng kính mang tính đặc trưng của văn học Việt Nam ở giai đoạn Nho mạt, hữu ích để lý giải đa số các hiện tượng thơ nhưng theo tôi với bối cảnh xã hội phức tạp và đa dạng, nhiều giao thoa văn hóa ở giai đoạn này, để xếp một tác giả vào nhóm nhà nho tài tử cần rất nhiều cân nhắc. Liệu một nhà nho như Đặng Trần Côn mong muốn làm quan giúp đời, nhưng không được như ý, lui về ở ẩn, viết nên thiên trường thi “Chinh phụ ngâm khúc” ký thác tâm tư của mình, là một nhà nho tài tử hay là một nhà nho thoái ẩn? Hồ Xuân Hương liệu có phải một người phụ nữ theo nho giáo hay chăng? Nguyễn Du từng chìm nổi theo phò Lê Chiêu Thống, thể hiện thái độ không quy thuận Tây Sơn, và sau này trở thành quan đại thần triều Nguyễn, liệu có phải một người chỉ đơn thuần đề cao cái tài hơn tất thảy? Các tác giả được xếp vào “nhà nho tài tử” trong văn chương Việt Nam dường như có một phong thái và chí nguyện khác nhiều với tứ đại tài tử Giang Nam ở đời Minh hay các vị tài tử Tô Châu ở thời Thanh. 

Trường hợp Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều lại càng khác biệt. Ông không thuộc hàng ngũ các nhà nho, dù gia tộc của ông đều văn hay chữ tốt. Dòng họ Nguyễn Gia ở Liễu Ngạn, Thuận Thành, Bắc Ninh vốn có gốc từ dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu, Thanh Hóa, tức phát tích của các chúa và vua Nguyễn. Khi Lê Mạc giao tranh, một người trong dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu, Thọ Dương hầu Nguyễn Hựu đã theo An Thanh hầu Nguyễn Kim sang  Ai Lao mượn binh giúp khôi phục họ Lê, nhờ vậy mà được thăng chức Đô chỉ huy sứ. Tuy nhiên khi từ trần, ông ngầm dặn dò con trai mình đến ẩn cư ở thôn Liễu Chử, tắc Liễu Ngạn. Từ đó, con cháu của dòng này lấy chữ “Gia” làm đệm để nhớ về gốc gác cội nguồn. Sau nhiều đời ẩn cư, đến đời ông Nguyễn Gia Đa lại ra làm quan nhưng phát về võ, được phong tước Bỉnh quận công. Từ đó cho đến Ôn Như hầu, dòng họ đều phát về võ, trong gia phả không tìm thấy ghi chép vị nào trong số ấy đi theo con đường khoa cử như dòng họ Ngô Thì hay dòng học Nguyễn ở Tiên Điền. Đặc biệt, quyền lực của họ Nguyễn Gia ở thời của cụ Siêu quận công Nguyễn Gia Châu đã đạt đến địa vị cao chỉ thua vương phủ họ Trịnh, được các quan trong triều xưng tựng là “tam triều thống soái”. (3) Ôn Như hầu, theo con đường thế tập, ông là một võ tướng. 

Cha của Nguyễn Gia Thiều là Đạt Vũ hầu Nguyễn Gia Ngô, con trưởng của Siêu quận công là vị đầu tiên được ghi lại có văn tài nổi trội. Gia phỉ ghi rằng “cụ tính tình sáng láng, yêu hoa, thích uống trà, học rộng, giỏi văn học, xuất khẩu thành chương, sở trường về thơ Nôm quốc âm. Tài bán cung cũng tinh thông hơn người”. Đạt Vũ hầu Nguyễn Gia Ngô quả thực gần gũi với khái niệm “tài tử”. Mặc dù lập công, quan lộ hanh thông, nhưng cụ thường giao lại việc quan cho cấp dưới, còn bản thân ngao du sơn thủy vui thú ngâm vịnh. Gia phả còn chép lại những câu thơ Nôm thể hiện ý chí của cụ như:

“Dục hà dục hỡi ngẫm xưa nay

Tuyền chuyển càn khôn nẫng một tay”

hay:

“Những tham bạc trắng cùng vàng đỏ

Dễ khiến người ngay hóa kẻ gian”

Cụ Đạt Vũ hầu mất sớm, thọ 44 tuổi. Phong thái sống của Đạt Vũ hầu chắc chắn có ảnh hưởng đến Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều. Ôn Như hầu không còn đi theo mô hình võ tướng thuần túy của dòng họ Nguyễn Gia, có lẽ bởi ở thời của Đạt Vũ hầu và Ôn Như hầu, việc võ nghiệp không còn là con đường kiến công lập nghiệp duy nhất như trước đó. Chúa Trịnh Doanh và chúa Trịnh Sâm đều yêu thích văn nghiệp. So với cha mình, Ôn Như hầu tài hoa nổi trội hơn. Ông sớm được phủ chúa sủng ái, nhanh chóng thăng tiến do lập nhiều công lao trong hộ giá. Không chỉ vậy, ông nổi tiếng giỏi đàn ca và thuật bói toán, tính cách trang nhã, thích nhàn tản, nhưng không phải cái nhàn của bậc túc nho mà là cái nhàn của Tiên Phật. Ông tự đặt hiệu cho mình là Hi Tông Tử và Như Ý Thiền. Tài kiến trúc của ông cũng được ghi nhận khi được giao việc xây dựng chùa Tiên Tích ở hồ Kim Âu (nay là khu Kim Liên), thắng cảnh một thời của kinh đô. Gia phả còn ghi lại cảm thán của ông:

“Đứng co ngọc tháp lắng từng chồng

Nằm lặng Âu Hồ tình một tấm”

Và rồi ông đã cho sửa lại toàn bộ khu vực này, tu tạo cảnh trí, đắp núi đất, dựng hành cung tựa như chốn Đào Nguyên. Ông cũng là người đã tu tạo cho phủ chúa. Bức tranh của ông có tên “Tung Sơn đồ” cũng nổi tiếng đương thời. Tiếc rằng, toàn bộ tài hoa ấy, âm nhạc, hội họa, kiến trúc…đều đã thất tán không còn dấu vết. Chỉ còn lại những vần thơ. (4)

Cái tài của Nguyễn Gia Thiều là một thiên bẩm xuất chúng, không liên quan đến cái tài theo lối Nho giáo. Ông có một nền tảng gia thế vững vàng, có đủ năng lực để gánh vác các trọng trách được trao vào tay, thậm chí làm tốt hơn cả trọng trách của mình. Khi ông được cử lên trấn thủ Hưng Hóa, ông và những người em của mình không chỉ dẹp loạn tại trấn Ninh Biên (tức vùng Điện Biên ngày nay, mà còn khiến các tù trưởng quy thuận, trao đổi qua lại với quan lại địa phương ở Vân Nam để thu hồi được đất đã bị nhà Thanh chiếm. Quan khâm sai Hồ Sĩ Đống đã viết thơ ca ngợi ông rằng:

“Kiến thuyết Lam Điền sản bích lưu

Tướng môn tòng cổ xuất anh lưu

Thất thư cơ lược tồn gia huấn

Thiên lý phiên hàn hà quốc hưu

Huống thị ngân hoàng lưu biệt phái

Chính duy nhục thực thẩm lương mưu

Thập châu thứ đệ tương luân khoản

Khổn ngoại ung dung trứ mậu du”

 

Có nghĩa là:

 

“Nghe nói Lam Điền sản ngọc châu

Nhà tướng từ xưa xuất anh hào

Cơ mưu bảy sách truyền gia huấn

Phúc nước vùng biên đội ơn sâu

Huống chi ngân hà chia thành nhá

Chỉ người “nhục thực” biết cơ mưu (“Nhục thực” ý chỉ người có lương bổng cao)

Mười châu lần lượt thu về đủ

Ngoài cõi thanh bình hưởng dài lâu”. (5)

 

Ở thời Lê Chiêu Thống, Ôn Như hầu làm đến chức đề đốc, lĩnh chỉ giám sát Nội thành, sau đó là cai quản kho lương. Cho đến khoảng thời gian này, Ôn Như hầu đã có một sự nghiệp thăng tiến sáng chói, chỉ cần ông muốn. Và ngay cả khi triều Lê sụp đổ, triều Tây Sơn vẫn liên tục mời ông làm quan, nhưng ông đã viết bài thơ từ chối khéo rằng:

 

“Mở mắt ra nhìn nước thánh minh,

Xét tài chẳng dám lạm công danh.

Ngửa thân cứ trực trong thời mệnh,

Ẩn tích hằng pha chốn thị thành.

Miệng thấy khói ra câu nọ khí,

Dạ nghe gặn dưới chén kia tình.

Ấy đang vinh buổi anh em thế,

Vì nỗi đa niên liễu phải cành.” (6)

 

Với một sự nghiệp như vậy, dù không được ghi chép lại trong chính sử, nhưng ta có thể thấy rằng ông chưa từng bị thất sủng. Vậy thì điều gì khiến ông viết những câu thơ đau đớn như “Cung oán ngâm khúc”? “Cung oán ngâm khúc” không phản ánh nỗi đau thời loạn như “Chinh phụ ngâm khúc” hay “Đoạn trường tân thanh”, chúng ta không thấy một cuộc đời lệ thác xuống ghềnh ở đó. “Cung oán ngâm khúc” dường như là một khung cảnh tĩnh sang trọng và mỹ lệ, đến mức, người ta có thể quy chụp những câu thơ ấy là thói “không đau mà rên”, kết quả của lối sống quý tộc xa hoa. (7) 

Không rõ vì lý do gì, các nhà nho đương thời gần như không nhắc trực tiếp tới ông, cũng chưa từng ca tụng ông giống như ca tụng Đặng Trần Côn. Ngay cả Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ đều nhắc đến địa danh chùa Tiên Tích như một danh thắng kinh kỳ, nhưng chưa từng nhắc đến Ôn Như hầu. Có lẽ bởi ông không tiếp xúc nhiều với các nhà nho. Hiệu tự xưng của ông cho thấy xu hướng Phật – Lão, bản thân ông cũng là người tu thiền. Nhà nho thế hệ sau là Lý Văn Phức (1789 – 1849) có lẽ là người hiếm hoi cảm thán trước tác “Cung oán ngâm khúc” của ông là “Thiên đàng bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân” (có nghĩa là “ngàn lần điêu luyện, lời lời đề khiến người ta phải kinh khiếp”). (8) Có lẽ hành trạng của Ôn Như hầu, đúng như ông Hồ Sĩ Đống đã nhận xét, chỉ các quan to mới biết được cơ mưu của ông. Từ gia phả, chúng ta cũng thấy ghi chép rằng ông thường thực hiện những nhiệm vụ cơ mật của triều đình, nhiệm vụ cơ mật ấy là gì thì người đời sau cũng như người đương thời không thể tường tận, mà dù có biết rõ cũng không thể nói rõ. Đây chính là những khoảng trống lịch sử để tôi viết cuốn tiểu thuyết “Thiên địa phong trần” của mình, nhưng nó đồng thời cũng cho tôi góc nhìn khác về “Cung oán ngâm khúc’. 

Không rõ Ôn Như hầu đã trải qua những gì trong suốt cuộc đời vừa rực rỡ nhưng vừa lẩn khuất của mình, nhưng chắc rằng không gian sống của ông không phải ở chốn thôn dã trong cảnh thanh nhàn. Ông là một con người của thị thành, ông vịnh mình rằng “Ẩn tích hằng pha chốn thị thành”. Không gian ở thị thành thường nhỏ hẹp, bị vây kín trong những bức tường, nhưng một quý tộc như ông còn phải gọt rũa bản thân hơn thế. Năm tuổi, ông đã bị đưa vào phủ chúa học cùng với các vương tôn quý tộc khác. Gia thế cho ông cơ hội để thi triển, nhưng cũng chính gia thế là gông cùm trong suốt tuổi thơ của ông. Ông không có sự khoáng đạt trong hành xử như ông và cha mình, thay vì đó là một sự tinh tế và cẩn trọng, mà có lẽ đã trở thành nếp khi trưởng thành. Ông viết một bài thơ dặn thằng nhỏ ra vườn hái hoa như thế này:

“Cam, tốc ra thăm gốc hải đường,

Hái hoa về để kết làm tràng.

Những cành với nhánh đừng vin nặng,

Mấy đoá còn xanh chớ bẻ quàng.

Xong, lại tây hiên tìm liễn xạ,

Rồi sang thư viện lấy bình hương.

Mà về cho chóng, đừng thơ thẩn,

Kẻo lại rằng chưa dặn kỹ càng.”

Đã tỉ mẩn nâng niu từng bông hoa, luôn khiến tôi nhớ đến cảnh Lâm Đại Ngọc chôn hoa trong “Hồng lâu mộng”, ông còn cẩn trọng biến lời dặn dò thành một bài thơ để đứa nhỏ dễ thuộc nằm lòng, không quên từng bước. Đó là tâm tư của một người luôn phải sắp đặt, tính toán trước sau, một người bị gò bó trong không gian sống quý tộc của mình. Chính vì vậy, ông không mượn lời của cô gái làng chơi như Nguyễn Du, không mượn lời của chinh phụ như Đặng Trần Côn, mà mượn lời của một cung nữ để ký thác hoàn cảnh của mình mà ở đó ông được tự do cất lên những băn khoăn của mình. 

>>> Tìm hiểu thêm về bộ tiểu thuyết “Thiên địa phong trần” viết về cuộc đời Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều: Combo Thiên Địa Phong Trần (trọn bộ 3 tập) – Book Hunter Lyceum

Nỗi niềm cung oán

Trong thơ Hán Đường, nếu “chinh phụ” là một thể tài, thì “cung oán” cũng là một thể tài. Vị thế của thể tài này trong văn học Hán Đường không cao, ít tuyệt phẩm. Ví dụ Bạch Cư Dị có bài thơ “Hậu cung oán”:

“Vũ lộ do lai nhất điểm ân,

Tranh năng biến bố cập thiên môn.

Tam thiên cung nữ yên chi diện,

Kỷ cá xuân lai vô lệ ngân.”

Có nghĩa là: Ơn mưa móc có hạn, làm sao có thể chia đều cho cả ngàn nơi, ba ngàn cung nữ trẻ đẹp, ai mà chẳng có ngấn lệ khi xuân về.

Nhưng xét về nghệ thuật cũng như độ kỳ vĩ, bài thơ nhỏ này không thể sánh với “Trường hận ca” của chính Bạch Cư Dị. Hoặc một chùm thơ khác xuất sắc hơn, đó là “Trường Tín thu từ”, viết về nỗi sầu của nàng Ban Tiệp dư trong cung nhà Hán. Các bài “Trường Tín thu từ” có câu từ mỹ lệ, nhưng lại không có địa vị bằng bài thơ “Khuê oán” của chính Vương Xương Linh, một bài thơ có ngôn từ giản dị nhưng lại chạm đúng nỗi đau của chinh phụ. Các nhà thơ trung đại của Việt Nam cũng viết nhiều bài cung oán, trong đó có thơ của ông Đặng Minh Bích (thế kỷ 15), và nổi bật không kém Nguyễn Gia Thiều chính là nhà thơ đương thời với ông – Nguyễn Huy Lượng với hơn trăm bài “Cung oán”. Các bài thơ này hơn kém nhau về sự mĩ lệ của ngôn từ và nỗi sầu ai oán của người cung nữ bị ghẻ lạnh. Nhưng nếu chỉ có vậy, có lẽ “Cung oán ngâm khúc” không khiến ông Lý Văn Phức phải kinh tâm động phách như thế, và chẳng thách thức các nhà phê bình đến nỗi như ông Đỗ Lai Thúy phải thốt lên: “Nguyễn Gia Thiều khiến các nhà nghiên cứu phải khiếp phục và lảng tránh”. (9)

“Cung oán ngâm khúc” vượt ra khỏi thể tài cung oán, bởi nỗi sầu của người cung nữ không chỉ là nỗi đau bị giam cầm và bỏ rơi. Nỗi ai oán của người cung nữ trong tác phẩm của Ôn Như hầu có sắc màu triết lý, không phải thiên cổ sầu đơn độc ngang tàng trong thơ của Trần Tử Ngang, mà một nỗi oán phức tạp hơn, mà đến thế kỷ 19, ở thế giới phương Tây, triết gia Søren Kierkegaard đã gọi đó là “Angest” trong tiếng Đan Mạnh và “Angst” trong tiếng Đức, thường được hiểu như một trạng thái hoang mang mông lung không rõ nguyên do. Trạng thái này đã đi vào triết học hiện sinh của Heidegger, Sartre, Jasper, Camus như một phản ứng trước số phận. 

Tất nhiên, Nguyễn Gia Thiều ở thời đại của ông chưa có khái niệm cho trạng thái này. Ông có thể thấu lẽ hư vô do thấm nhuần tư tưởng Phật Lão, như tư tưởng Phật Lão đã hướng tới sự giải thoát, trong khi ấy nỗi niềm “cung oán” trong tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều chưa đạt tới hướng giải thoát ấy. Thơ ông không có sự ung dung nhàn dật của Đào Uyên Minh hay Vương Duy, không có vẻ khoáng đạt của các thiền sư Lý Trần có thể “cư trần lạc đạo”. Là một quý tộc có tài, ông không được lựa chọn cuộc đời nhàn tản. Cha ông, Đạt Vũ hầu Nguyễn Gia Ngô là một minh chứng sống động cho phận vị không thể thoát. Nếu các bậc hàn nho cần nỗ lực để được gánh trọng trách, thì cha con ông chẳng cần phải nỗ lực gì, thay vì đó, buộc phải gánh trọng trách, và trọng trách ấy cũng nằm trong năng lực của bản thân, chỉ đáng tiếc là, đó không phải điều họ đeo đuổi. 

Một cách kỳ lạ, Nguyễn Gia Thiều và các anh em trong nhà đều giỏi dịch số. Ví dụ, Quán Trung hầu Hòa Trai Nguyễn Gia Viêm tu theo đạo, giỏi Kinh Dịch; Tứ Khê bá Nguyễn Gia Điêu giỏi chiêm tinh đoán mệnh… (10) Nguyễn Gia Thiều cũng viết rất nhiều câu thơ kỳ lạ, nhưng do các thi tập của ông thất tán nên ngoài “Cung oán ngâm khúc”, người ta chỉ còn biết đến những câu thơ rời rạc kì dị, ví dụ như:

“Trú dạ mênh mang thuyền hạo kiếp

Cổ kim man mác võng huyền cơ”

hay 

“Tay tích nhân đà đem cố sự

Miệng linh khí mắng mỏ huyền cơ”

Mối quan tâm đặc biệt về số mệnh của anh em Nguyễn Gia Thiều cho thấy ông có những chiêm nghiệm sâu sắc về định mệnh.  Những câu thơ này có chung suy niệm với những câu thơ triết lý trong “Cung oán ngâm khúc”:

“Kìa thế cục như in giấc mộng,

Máy huyền vi mở đóng khôn lường!

Vẻ chi ăn uống sự thường,

Cũng còn tiền định khá thương lọ là.”

Học dịch lý, gieo quẻ xem bói, Nguyễn Gia Thiều ắt hẳn thấu rõ sự áp đặt của số mệnh. Tư tưởng Á Đông coi số mệnh con người là tiền định, tức những điều diễn ra đều được sắp đặt trước, như sách “Mạnh Tử” viết: “Nhất ẩm nhất trác sự giai tiền định, vạn sự phận dĩ định, phù sinh không tự mang” tức một bữa ăn cuộc uống cũng đã định trước, vạn sự đều đã định sẵn rồi, chỉ sự sống trôi nổi khiến bận lòng. Nhưng cũng chính Nguyễn Gia Thiều thấu rõ sự mê hoặc của cuộc sống phù thế, sự không thể cưỡng được của ham muốn nhập cuộc. Nhưng ở giữa hai sắc thái này, ông như con thuyền hạo kiếp lênh đênh giữa vô cùng, một sắc thái “Angst” điển hình. 

Nhưng “Angst” của Nguyễn Gia Thiều khác với “Angst” khi đối mặt với tự do mà Sartre đã nhắc đến. Trong phát biểu “L’Existentialisme est un humanisme” (1946) Sartre cho rằng con người không có một essence (tự tính) bất biến được định sẵn từ trước, mà sự hiện sinh hay còn gọi là tồn tại (existence) có trước, còn essence nảy sinh sau đó. Sartre cho rằng con người âu lo trước việc mình có thể tự do lựa chọn viết lên trang sách cuộc đời mình và trốn chạy vào tiền định. Nguyễn Gia Thiều “angst” vì ông nhận thức được một thứ tiền định khác, không phải “essence”, mà là con người bị ném (“Geworfenheit”) vào thân phận một cách ngẫu nhiên, tức con người không được lựa chọn hoàn cảnh sống, nhưng lại có khả năng “phóng chiếu” (Entwurf), tức tự ném mình vào tương lai. Vâng, đây là những điều Martin Heidegger luận bàn trong “Sein und Zeit” (1927). Trong đó, con người rơi vào trạng thái “angst” như một sự lạc lõng hư vô, không thuộc về đâu cả, với một tương lai chỉ hướng tới cái chết. Và toàn bộ những triết luận của Heidegger nằm trong đoạn thơ tuyệt tác của Ôn Như hầu:

““Kìa thế cục như in giấc mộng,

Máy huyền vi mở đóng khôn lường!

Vẻ chi ăn uống sự thường,

Cũng còn tiền định khá thương lọ là.

Đòi những kẻ thiên ma bách chiết,

Hình thì còn bụng chết đòi nau!

Thảo nào khi mới chôn nhau,

Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra!

Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,

Ai bày trò bãi bể nương dâu?

Trắng răng đến thuở bạc đầu,

Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần?

Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc,

Lớp cùng thông như đúc buồng gan.

Bệnh trần đòi đoạn tâm can,

Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da!

Gót danh lợi bùn pha sắc xám,

Mặt phong trần nắng rám mùi dâu.

Nghĩ thân phù thế mà đau,

Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.

Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ,

Đường thế đồ gót rỗ khi khu.

Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,

Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.

Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán,

Chết đuối người trên cạn mà chơi!

Lò cừ nung nấu sự đời,

Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.

Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc,

Thú ca lâu dế khóc canh dài,

Đất bằng bỗng rấp chông gai,

Ai đem nhân ảnh nhuốm màu tà dương?

Mồi phú quý nhử làng xa mã,

Bả vinh hoa lừa gã công khanh,

Giấc Nam Kha khéo bất tình,

Bừng con mắt dậy thấy mình tay không!

Sân đào lý mây lồng man mác,

Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng.

Cánh buồm bể hoạn mênh mang,

Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh.

Quyền hoạ phúc trời tranh mất cả,

Chút tiện nghi chẳng trả phần ai!

Cái quay búng sẵn lên trời,

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.

Hình mộc thạch vàng kim ố cổ,

Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong.

Tiêu điều nhân sự đã xong,

Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.

Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ,

Quán thu phong đứng rũ tà huy.

Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.

Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy,

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau!

Trăm năm còn có gì đâu,

Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì.”

Toàn bộ đoạn thơ này hoàn toàn có thể tách ra khỏi “Cung oán ngâm khúc”. Ngay cả khi nó tồn tại độc lập thì giá trị triết lý và nghệ thuật của nó cũng đã có địa vị “độc nhất vô nhị” trong kho tàng văn học Việt Nam. Đoạn thơ này hoàn toàn có thể sánh ngang “Phóng cuồng ngâm” của Tuệ Trung thượng sĩ hay  “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi như một tác phẩm tuyên ngôn triết lý sống của mình. Và nếu vậy, có lẽ sự nghiệp văn chương của ông trở nên dễ hiểu hơn với độc giả, có lẽ ông sẽ có địa vị cao hơn trong văn đàn. Nhưng Nguyễn Gia Thiều không phải một con người đơn giản như vậy, không giống các triết gia hiện đại, ông là một người đàn ông tự đắc với tài năng tuyệt thế của mình, được sắp đặt cho số phận của một quý tộc kinh bang tế thế. Điều đó khiến những giằng xé “angst” trở nên phức tạp hơn, bởi lựa chọn tự ném mình vào cuộc sống trở nên mạnh mẽ hơn. Tiền định không phải là một sự sắp đặt có lý trí của Thượng Đế, mà là “trẻ tạo hóa đành hanh”, hoàn toàn phi lý trí, nói một cách khác, sự ngẫu nhiên, một “cái quay búng sẵn trên trời”. Trong khi ấy, con người lại ở trong bóng tối “mờ mờ nhân ảnh”, cũng là một cú ném vu vơ, nhưng lại hết mình – tất cả được ký thác trong thân phận của nàng cung nữ. 

Tiến cung – Ném mình vào phi lý

Nàng cung nữ của Nguyễn Gia Thiều không phải một cung nữ tầm thường bị bỏ quên trong cung cấm. Xuất phát điểm của nàng là vẻ đẹp lý tưởng mà mọi người con gái đều mong mỏi. 

“Trộm nhớ thuở gây hình tạo hoá,

Vẻ phù dung một đoá khoe tươi;

Nhuỵ hoa chưa mỉm miệng cười,

Gấm nàng Ban đã lạt mùi thu dung.

Áng đào kiểm đâm bông não chúng,

Khoé thu ba dợn sóng khuynh thành.

Bóng gương lấp ló trong mành,

Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa!

Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn,

Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa!

Hương trời đắm nguyệt say hoa,

Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.

Câu cẩm tú đàn anh họ Lý,

Nét đan thanh bậc chị chàng Vương.

Cờ tiên rượu thánh ai đang,

Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm.

Cầm điếm nguyệt, phỏng tầm Tư Mã,

Địch lầu thu, đọ gã Tiêu lang.

Dẫu mà tay múa miệng xang,

Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăn”

Nàng là một tài nữ, vừa có nhan sắc quyến rũ gợi dục, vừa có tài năng sánh ngang với bậc nam nhi. Nếu Nguyễn Du chỉ so tài năng của Kiều với nàng Ban ả Tạ, thì Nguyễn Gia Thiều đặt nàng cung nữ của mình sánh ngang những đại nghệ sĩ Trung Hoa như Lý Bạch, Vương Duy, Tư Mã Tương Như, Tiêu Sử… còn về nghề chơi “cờ tiên rượu thánh” thì sánh ngang với bậc tiên như Lưu Linh, Đế Thích. Tả nàng cung nữ, nhưng ta có thể thấy chính là sự tự đắc của Nguyễn Gia Thiều với chính sự phi thường của bản thân mình. 

Nguyễn Gia Thiều – nàng cung nữ không mang thân phận của một người bình thường – mô tuýp điển hình của xã hội hiện đại, thay vì đó lại ý thức sự phi thường của bản thân, có sự kiêu ngạo của bản thân, không muốn ném mình vào một số phận bình thường. Thay vì đó, ném mình vào một số phận phi thường nhất có thể: nàng cung nữ đã chấp nhận lời vời vào cung của vị vua. Trong xã hội xưa, tiến cung đối với người phụ nữ, là vinh hạnh cao quý nhất, cũng giống như đối với một nam nhân thì được vua phong công hầu vì công lao của mình là điều cao quý nhất. Nhưng nàng cung nữ ngay từ đầu không coi là một vinh dự, mà nàng coi đó là sự miễn cưỡng, tức lựa chọn tốt nhất trong số những lựa chọn. Ý thức được sự hư vô của đời người, và thấy mọi lựa chọn bày ra trước mắt đều không thỏa mãn, nàng đã định chọn cách không lựa chọn như một lựa chọn:

“Thôi thôi ngảnh mặt làm thinh,

Thử xem con tạo gieo mình nơi nao?”

Nhưng rồi nàng đã có cơ hội lựa chọn sự sủng ái của thánh thượng, được tiến cung, được trải nghiệm toàn bộ những khoái lạc dục tính mê đắm nhất. Những đoạn thơ khoái lạc của sủng hạnh là một tương phản với cảm thức “angst” trước tương lai chắc chắn tiến về cái chết của con người. Trong khoái lạc nhục dục không còn chỗ cho “angst”, mọi băn khoăn đều biến mất, không còn bóng đêm “mênh mông” mà chỉ còn những đêm giao hoan của “Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng”. Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy đã phát hiện một đặc điểm thú vị của “Cung oán ngâm khúc”: “Thế giới của Nguyễn Gia Thiều tràn ngập những bóng”. Ông cho rằng nàng cung nữ là một cái bóng mà Nguyễn Gia Thiều tạo ra để tự đối thoại với mình trong đơn độc. (11) Đây là một cách hiểu thú vị, bởi xen lẫn giữa nỗi niềm của nàng cung nữ là nỗi niềm của Nguyễn Gia Thiều. Nhưng tôi nghĩ rằng vẫn có một cách hiểu khác. Nguyễn Gia Thiều đã phóng chiếu cuộc đời mình vào hình ảnh nàng cung nữ, một người được sủng ái tột bậc bởi thiên bẩm của mình, nhưng rồi sao. Ông nhìn thấy được thịnh suy trong đó. Sự tương phản của “angst” và khoái cảm khiến người đọc như vùng thoát để thực sự sống, nhưng ngay sau đó một sự tương phản tất yếu sẽ diễn ra làm nên thể tài cung oán: sự thất sủng. 

Sự thất sủng đến với nàng cung nữ không có nguyên do, nó xảy ra vì nó xảy ra. 

“Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt,

Nguồn ân kia chẳng tát mà vơi!

Suy di đâu biết cơ trời,

Bỗng không mà hoá ra người vị vong”

Nếu ở đoạn đầu của khúc ngâm, Nguyễn Gia Thiều vẫn là Nguyễn Gia Thiều, thì đến đoạn khoái lạc, ông như tận hưởng toàn bộ những trải nghiệm mê đắm của người cung nữ, và rồi đến khi thất sủng, thực sự ông đã nhập hồn vào người cung nữ. Không! Điều này không đúng! Nói chính xác thì một người cung nữ bị thất sủng nào đó đã nhập vào ông để viết nên những vần thơ ấy. Những câu thơ không còn mang vẻ nam tính như nửa đầu, mà giờ đây đớn đau một cách nữ tính. Những lời oán than, những diễn giải cố lý giải sự thất sủng của bản thân, những đêm cô độc, những mong mỏi rồi tuyệt vọng… cứ thế tràn ra trên trang giấy. 

“Nào hay con tạo trêu ngươi,

Hang sâu chút hé mặt trời lại râm.

Trong cung quế âm thầm chiếc bóng,

Đêm năm canh trông ngóng lần lần.

Khoảnh làm chi bấy chúa xuân,

Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi.

Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ,

Gác thừa lương giấc ngủ thu phong,

Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng,

Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi.”

hay 

“Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng,

Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền.

Lạnh lùng thay giấc cô miên,

Mùi hương tịch mịch, bóng đèn âm u.”

hay 

“Một mình đứng tủi, ngồi sầu,

Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa!”

Với tâm hồn của một thi sĩ, tiếp xúc với đời sống xa hoa trong cung vua phủ chúa, Nguyễn Gia Thiều dễ dàng cảm nhận được tâm tư của những nàng cung phi. Trái tim nhạy cảm ấy đã khiến cho bài thơ ký thác lại như thể nói thay nỗi niềm của biết bao số phận người phụ nữ trái ngang. Nhưng dẫu nhập tâm, nhập hồn đến đâu, Nguyễn Gia Thiều vẫn không phải một nàng cung nữ, ông là một người nổi loạn:

“Đang tay muốn dứt tơ hồng,

Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!”

Câu thơ là khoảnh khắc vùng vẫy mạnh mẽ chống lại số phận tự tay chọn lựa trước khi hoàn toàn chấp nhận tiếp tục lao theo cú ném sai lầm của mình. Nàng cung nữ – Nguyễn Gia Thiều muốn chấm dứt toàn những duyên nghiệp mà mình tự chọn lựa, nhưng bất lực. Con người bị ném vào cuộc đời một cách ngẫu nhiên, rồi tự lựa chọn ném mình vào số phận của riêng mình và chẳng thể dừng lại được nữa. Nàng cung nữ – Nguyễn Gia Thiều như Sisyphe ngày qua ngày tiếp tục đẩy tảng đá lên con dốc của số phận để rồi tảng đá lại lăn xuống. Nàng cung nữ dẫu biết vô vọng, bởi thời gian trôi đi, nàng tiến gần đến sự già nua, thì sự sủng ái càng xa vời,  nhưng vẫn ngày qua ngày “nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo”. 

Đỉnh điểm của tuyệt vọng của nàng cung nữ không phải số phận chết già trong lãnh cung, mà là giấc mơ được sủng ái như xưa của nàng. Giấc mơ chính là limbo, địa ngục vòng lặp. Giấc mơ của nàng cung nữ không phải là niềm vui trọn vẹn trong mơ như nàng chinh phụ của Đặng Trần Côn, mà là giấc mơ khi thức, là cơn hoang tưởng lặp đi lặp lại: Kìa, xa giá của vua sắp đến rồi, mau điểm trang lại, để đợi một lần sủng hạnh. 

“Phòng khi động đến cửu trùng,

Giữ sao cho được má hồng như xưa.”

Nàng cung nữ tìm kiếm một điều chẳng bao giờ đáp lại, một cảm thức phi lý – “Cái phi lý sinh ra từ sự đối đầu giữa tiếng gọi của con người và sự im lặng phi lý của thế giới.” (12) Mong mỏi được sủng hạnh là đại diện cho khao khát kiểm soát số phận của con người, và phía bên kia, sự vắng bóng của vị vua là đại diện cho sự im lặng phi lý của thế giới. Đương nhiên, Ôn Như hầu không phải là một triết gia hiện sinh, ông là một kẻ dám tự nhận mình là “Miệng linh khí mắng mỏ huyền cơ”, một Sisyphe của phương Đông, kẻ dám chống lại các vị thần, muốn tự chọn số phận cho mình và sẵn sàng chống lại số phận. Nhưng ông cũng biết sự nhỏ bé của thân phận người trước vũ trụ mênh mang, ông nhận thức được ông không ngăn cản được những gì số phận bày ra trước mắt.

Trong suốt cuộc đời của Nguyễn Gia Thiều, ông đã sống một cách trọn vẹn với phận vị của mình dẫu cho những hoài nghi trăn trở về ý nghĩa cuộc đời vẫn trở đi trở lại trong tư tưởng của ông, và tất nhiên ông thấu rõ sự vô nghĩa của đời người. Không có bất cứ ghi chép nào cho thấy Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết “Cung oán ngâm khúc” vào thời gian nào, tôi cho rằng ông đã viết tác phẩm vào khoảng thời gian nhàn cư. Gia phả cho biết, vào năm Giáp Ngọ (1774), ông xao nhãng việc quân dù quan lộ đang rộng mở, lui về sống nhàn cư ở Hồ Tây. Khoảng thời gian này kéo dài sáu bảy năm. Có lẽ đây là khoảng thời gian ông suy ngẫm về lựa chọn của mình. Là một quý tộc, Nguyễn Gia Thiều có lẽ không có nhu cầu khoe thơ trong văn đàn, ông viết “Cung oán ngâm khúc”, nói như Đỗ Lai Thúy, như một sự “đối thoại với bóng”. Ông để cho cái bóng của mình, nàng mĩ nhân phi thường sắc nước hương trời, sống một cuộc đời giả định, bước vào sự sủng hạnh của vua. Trong giả định ấy, Ôn Như hầu được đắc sủng, nhưng tự ông cũng thấu rõ lúc suy vi, ông càng thấu rõ nỗi đau của sự mắc kẹt trong lựa chọn số phận của chính mình. Đối thoại này đã cho Nguyễn Gia Thiều trải qua một cuộc đời đau khổ trong tưởng tượng. Kỳ thực, ông không sống một cuộc đời như vậy, như đã nói ở trên, ông không hề phải chịu cảnh thất sủng. Điều tạo nên nỗi oán của ông, đó là ông không thể chiến thắng được số mệnh an bài, không ngăn được cảnh tang thương diễn ra trước mắt. Ông chỉ có thể lựa chọn sự xót thương:

“Lỏm chỏm vài hàng tỏi,

Lơ thơ mấy khóm khương.

Vẻ chi tèo tẻo cảnh,

Thế mà cũng tang thương?”(13)

Nếu đặt “Cung oán ngâm khúc” trong toàn bộ cuộc đời công danh và cuộc đời nghệ sĩ của Nguyễn Gia Thiều, ta sẽ thấy nỗi oán của ông là nỗi oán số mệnh trái ngang. Nhưng ông không đổ lỗi cho số mệnh, không thoái lui ở ẩn theo lối “tiến vi quan, thoái vi sư” của các nhà nho, ông chọn cách tiếp tục lăn tảng đá số phận của mình – “trực trong thời mệnh”, dẫu rằng biết trước kết quả chỉ là “một nấm cổ khâu xanh rì”. Điều khiến ông là một nhà thơ chứ không phải một triết gia, đó là ông vẫn vẫn thương cảm và đớn đau cho số phận của chính mà và số phận nhân sinh. Ông ngừng giải thích, và đơn giản là hiện sinh bằng chính cuộc đời của mình. 

Hà Thủy Nguyên

Chú thích

  1. Bài tiểu luận nằm trong cuốn sách “Bút pháp của ham muốn”, Đỗ Lai Thúy, NXB Tri Thức, 2009., 
  2. Nhà nho tài tử”: Nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học trung cận đại Việt Nam
  3. Trang 153, “Nguyễn Gia phả ký – Liễu Ngạn, Bắc Ninh”, Nguyễn Văn Nguyên dịch và chú thích, Chu Thị Hiền sưu tầm, NXB Thế giới
  4. Trang 183 – 186, “Nguyễn Gia phả ký – Liễu Ngạn, Bắc Ninh”, Nguyễn Văn Nguyên dịch và chú thích, Chu Thị Hiền sưu tầm, NXB Thế giới
  5. 187 – 188, Nguyễn Gia phả ký – Liễu Ngạn, Bắc Ninh”, Nguyễn Văn Nguyên dịch và chú thích, Chu Thị Hiền sưu tầm, NXB Thế giới
  6. 189 – 190, Nguyễn Gia phả ký – Liễu Ngạn, Bắc Ninh”, Nguyễn Văn Nguyên dịch và chú thích, Chu Thị Hiền sưu tầm, NXB Thế giới
  7. Trang 96, tiểu luận “Nguyễn Gia Thiều – đối thoại với bóng”, “Bút pháp của ham muốn”, Đỗ Lai Thúy, NXB Tri Thức, 2009.
  8. Trang 97, tiểu luận “Nguyễn Gia Thiều – đối thoại với bóng”, “Bút pháp của ham muốn”, Đỗ Lai Thúy, NXB Tri Thức, 2009.
  9. Trang 93, tiểu luận “Nguyễn Gia Thiều – đối thoại với bóng”, “Bút pháp của ham muốn”, Đỗ Lai Thúy, NXB Tri Thức, 2009.
  10. Trang 177, Nguyễn Gia phả ký – Liễu Ngạn, Bắc Ninh”, Nguyễn Văn Nguyên dịch và chú thích, Chu Thị Hiền sưu tầm, NXB Thế giới
  11. Trang 99, tiểu luận “Nguyễn Gia Thiều – đối thoại với bóng”, “Bút pháp của ham muốn”, Đỗ Lai Thúy, NXB Tri Thức, 2009.
  12. Nguyên văn: “L’absurde naît de cette confrontation entre l’appel humain et le silence déraisonnable du monde.” , Le Mythe de Sisyphe, Albert Camus. 
  13. Bài thơ “Ra xem vườn sau khi trời mưa” của Nguyễn Gia Thiều

Tiểu thuyết lịch sử thời Lê Mạt “Thiên địa phong trần” với nhân vật chính là Nguyễn Gia Thiều

Trong tháng Năm năm 2019, Book Hunter xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc cuốn tiểu thuyết lịch sử Thiên địa phong trần” – Tập 1: Khúc cung oán của nhà văn Hà Thủy Nguyên. “Thiên địa phong trần” xoay quanh những biến loạn chính trị thời Lê Mạt, cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18. Trong đó, Tập 1: Khúc cung oán tập trung khai thác những âm mưu đấu đá trong năm tháng gắng gượng cuối cùng của triều đình chúa Trịnh Sâm và vua Lê

Book Hunter

24/05/2019

Chiến tranh có hào hùng không?

Bao năm qua, đó là câu hỏi bỏ lửng trong tâm trí tôi – tâm trí của một người có tuổi thơ đắm chìm trong truyền thông về chiến tranh. Thuở nhỏ, tôi cảm thấy những cuộc chiến thời hiện đại trên đất nước mình thật hào hùng, huy hoàng, tôi đã tin vào tất cả những mỹ từ mà người ta khoác cho chúng. Tôi cho rằng đó là cuộc chiến “quật cường”, “đầy ý nghĩa nhân văn của dân tộc” mình.  Nhưng càng

Minh Hiền

01/04/2025

THIÊN ĐỊA PHONG TRẦN – MỘT “KHÚC CUNG OÁN” GIỮA THỜI LOẠN LẠC

Hồi còn đi học, tôi thường đọc đi đọc lại "Chinh phụ ngâm khúc" của Đặng Trần Côn. Những câu ngâm: “Thiên địa phong trần/ Hồng nhan đa truân/...” đã theo tôi suốt một thời cắp sách đến trường. Hồi đó, tôi chỉ lờ mờ biết được “thuở trời đất nổi cơn gió bụi” là một thời loạn lạc, phân tranh. Lớn hơn một chút, tôi đọc thêm "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều. Tôi của lúc đó cũng đặt câu hỏi, tại