Home Chơi NHẠC TIỀN CHIẾN (1): LÊ THƯƠNG – NGƯỜI ĐEM THƠ CỔ VÀO TÂN NHẠC

NHẠC TIỀN CHIẾN (1): LÊ THƯƠNG – NGƯỜI ĐEM THƠ CỔ VÀO TÂN NHẠC

Lê Thương (1914 – 1996) là một trong những nhạc sĩ đi đầu của nền Tân nhạc Việt Nam (từ 1928 đến nay). Ông tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ra trong một gia đình có truyền thống cổ nhạc ở Hà Nội. Theo như Hồi ký của Phạm Duy thì ông là một thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Ông mở đầu sự nghiệp sáng tác của mình bằng việc tham gia nhóm các nhạc sĩ Hoàng Qúy, Tô Vũ, Phạm Ngữ, Canh Thân đảm nhiệm sáng tác nhạc cho các vở kịch mà nhóm kịch của Thế Lữ trình diễn. Khi này, ông đang làm nghề dậy học để kiếm sống. Mặc dù là nhạc sĩ tài năng nhưng ông chủ yếu sống bằng nghề dậy học. Sau năm 1941, khi ông vào Sài Gòn, ông vẫn tiếp tục công việc dạy học. Ban đầu, ông là nhà giáo Sử Địa, sau đó là dậy Pháp Ngữ, làm công chức của Trung tâm học liệu bộ Quốc gia giáo dục (Việt Nam Cộng Hòa) và cuối cùng là giảng viên của Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ (Việt Nam Cộng Hòa).

Lê Thương là nhạc sĩ tiên phong cho nhiều thể loại âm nhạc của nền Tân nhạc Việt Nam. Không chỉ là một trong các nhạc sĩ đi đầu của nền Tân Nhạc, ông còn là người đầu tiên viết các bản truyện ca, người đầu tiên viết nhạc hài hước (có lẽ ông ảnh hưởng lớn các ca khúc hài hước của Phạm Duy). Ngoài ra, ông còn đặt lời cho rất nhiều bản nhạc ngoại quốc ngắn và phổ thơ nhiều bài thơ hay của Thơ Mới. Cùng với Nguyễn Xuân Khoát, ông cũng mở đầu dòng nhạc tuổi thơ với các ca khúc như “Con mèo trèo cây cau”, “Thằng bé tí non”, “Ông Nhang bà Nhang”, “Truyền kỳ Việt sử”, “Học sinh hành khúc”.

Ca khúc Học sinh hành khúc:

Thế nhưng, những bản nhạc thật sự làm nên danh tiếng của Lê Thương lại là những ca khúc trữ tình ông sáng tác trước năm 1941, khi ông đang ở miền Bắc. Nổi bật có ca khúc “Bản đàn xuân” với ca từ nhẹ nhàng bay bổng, kết hợp giữa tình yêu tự do của thời đại mới và không khí cổ xưa của thơ cổ Á Đông.

Một ca khúc cũng xuất sắc không kém và nhiều tính thơ là “Thu trên đảo Kinh Châu”. Ca khúc như một bài thơ mang nỗi sầu nghìn xưa:

“Sông Kinh Châu có con buồm trắng
Gió thu mang người biệt ly vào cảnh sầu đó chăng
Hồn thu theo gió đến ngọn núi chót cao cạnh mây
Gió đưa hồn thu xuống cây
Bao lá rơi để gió thu cuốn đi.”

Như đã đề cập ở trên, Lê Thương phổ thơ rất nhiều các bài thơ của phong trào Thơ Mới như “Bông hoa rừng” (Thế Lữ), “Tiếng thùy dương” (phổ thơ “Ngậm ngùi” của Huy Cận)… thế nhưng chúng tôi không tìm được bản thu trên mạng. Chúng tôi chỉ tìm thấy bản thu âm bản nhạc của ông phổ thơ bài “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư với hình ảnh kinh điển:

“Em không nghe rừng thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô”

Với thể loại truyện ca, ông đóng góp cho nền Tân nhạc Việt Nam bộ trường ca xuất sắc có tên “Hòn vọng phu”. Tác phẩm mượn các tích xưa và thơ cổ để tái hiện hình ảnh người chinh phụ chờ chồng đi chiến chinh trong thời tao loạn. Truyện ca này là sự thử thách cho các ca sĩ nổi tiếng. Thế nhưng, chỉ có bản thu của Thái Thanh trước năm 1975 với phần ngâm thơ của Hoàng Oanh là đạt đến độ hoàn hảo, thể hiện được tất cả những phức tạp của kỹ thuật âm nhạc, tinh thần Á Đông và sự day dứt trong các đoạn có cảm xúc sâu lắng.

Sau năm 1975, khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ và chính quyền Cộng Sản ở miền Bắc tiếp quản miền Nam, Lê Thương không sáng tác thêm nữa và cũng không tham gia bất cứ hoạt động văn hóa nghệ thuật nào. Năm 1990, ông mất trí dần và qua đời vào năm 1996. Cuộc đời sáng tác âm nhạc và hoạt động văn hóa nghê thuật của ông rất vĩ đại, có thể sánh ngang với các đại thụ của nhạc tiền chiến như Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát… nhưng có lẽ do ông đã sớm vào Nam và tham gia hệ thống của Việt Nam Cộng Hòa, lại không đóng góp sáng tác nào sau năm 1975 thế nên đến nay ông chưa có được sự kính ngưỡng xứng đáng.

Cáo Hà Thành

NHẠC TIỀN CHIẾN (6): VĂN CAO – CHÔNG CHÊNH GIỮA TIÊU DAO VÀ TRÁCH NHIỆM

Người ta oán trách Văn Cao vì đã từng làm sát thủ, từng viết những ca khúc đầy ngôn từ bạo lực; người ta cũng từng đấu tố Văn Cao vì tư tưởng lung lạc của ông dưới thời Cộng Sản; và cũng có rất nhiều người phải nghiêng mình thán phục tài năng âm nhạc của ông cho dù ông viết các ca khúc cổ động hay các ca khúc trữ tình. Tôi cho rằng Văn Cao là một người bị giằng xé giữa

NHẠC TIỀN CHIẾN (2): NGUYỄN VĂN THƯƠNG VÀ NHỮNG KHOẢNH KHẮC THOÁNG QUA BẤT HỦ

Nguyễn Văn Thương là một trong những nhạc sĩ đi đầu của nền tân nhạc Việt Nam. Ông đã mang đến cho nền tân nhạc không khí mơ màng và trữ tình. Không bị ám ảnh bởi không khí Á Đông cổ xưa như Lê Thương, Nguyễn Văn Thương là một nhạc sĩ khéo tận dụng các yếu tố âm nhạc dân gian Việt Nam vào các nguyên tắc thanh nhạc của phương Tây. Chính bài hát “Trên sông Hương” (1936) của ông đã mở

NHẠC TIỀN CHIẾN (4): DƯƠNG THIỆU TƯỚC – NHẠC SĨ CỦA TÀI TỬ LÃNG DU

Dương Thiệu Tước (1915 – 1995) là nhạc sĩ tiền chiến tiên phong của nền tân nhạc Việt Nam. Ông xuất thân từ một gia đình Nho học truyền thống, cháu nội của nhà Nho tài tử Dương Khuê (tác giả của khúc ca trù nổi tiếng “Hồng hồng tuyết tuyết”), nên ca từ trong ca khúc của ông có màu sắc bảng lảng và thủ pháp ước lệ thường thấy trong thơ ca của các nhà Nho tài tử. Trong thập niên 30s của

NHẠC TIỀN CHIẾN (3): HOÀNG QUÝ – NHẠC SĨ CỦA NHỮNG BẢN ANH HÙNG CA

Hoàng Qúy (1920 – 1946) là một trong các nhạc sĩ tiên phong của nền Tân nhạc Việt Nam. Tuổi đời của ông tuy ngắn ngủi nhưng những đóng góp cho nền Tân nhạc lại mang tính chất nền tảng. Hoàng Qúy sinh ra tại Hải Phòng, ông theo học nhạc sĩ Lê Thương trong thời kỳ Lê Thương dậy học ở Hải Phòng (theo Phạm Duy). Ngoài ra, ông còn theo học một cách bài bản Tây nhạc với nữ giáo sư âm nhạc

NHẠC TIỀN CHIẾN (5): ĐOÀN CHUẨN – CHÀNG CÔNG TỬ HÀO HOA ĐẤT BẮC

Nhắc đến nhạc tiền chiến, không thể không nhắc đến nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (1924 – 2001) . Nét nhạc của ông mang đậm hồn cốt của không khí đô thị xứ Bắc nửa đầu thế kỷ 20. Nhạc của ông nhẹ nhàng và sang trọng, tựa hồ như bụi bặm của cuộc đời không bén gót. Không “mang mang thiên cổ sầu” như Dương Thiệu Tước, Lê Thương…v…v…, không cảm xúc dạt dào như Nguyễn Văn Thương, không thoát tục như Văn Cao, không