Home Xem Claude Monet & trường phái Ấn tượng
Xem

Claude Monet & trường phái Ấn tượng

Book Hunter

22/05/2014
1. Tôi bắt đầu tìm hiểu hội họa khá muộn (nhưng cũng chỉ như một người nghiệp dư), có lẽ chỉ khoảng từ 03-04 năm về trước, khi bắt đầu lang thang ở các bảo tàng (vì chúng nổi tiếng nên cứ đến thử xem).
Những bức tranh thuộc trường phái Ấn tượng (Impressionism)* là những tác phẩm hội họa đầu tiên mà tôi cảm thấy gần gũi.  Đa phần tranh vẽ phong cảnh, tĩnh vật, hay những người bình thường- những thứ dễ nhận biết. Tranh trước Ấn tượng hay vẽ các chủ đề lấy từ thần thoại, tôn giáo, lịch sử mà tôi không biết, còn tranh trừu tượng và siêu thực sau Ấn tượng thì tôi cũng không rõ là các họa sỹ định vẽ gì. Hơn thế nữa, cách vẽ Ấn tượng thể hiện hết trên bề mặt tranh. Những nét cọ thấy rõ khi nhìn gần lưu lại cách họa sỹ quệt, lượn, xoáy, hoặc chấm nó. Khi người xem lùi xa hơn một chút, hiệu quả để lại là những ấn tượng thị giác chung về cảnh vật với màu sắc, ánh sáng và chuyển động. Tranh vẽ theo lối Ấn tượng  đem đến cho người xem một không gian cảm nhận thú vị được xác định bởi sự đối lập giữa nhìn gần và nhìn xa, giữa gồ ghề và phẳng, giữa  cái thô ráp của nét cọ và sự nhẹ nhàng lung linh của ánh sáng.
2.

Tàu Trong tuyết  (Train in the Snow), 1875

Ga Xe Lửa Saint Lazare ở Paris (Saint Lazare Train Station, Paris), 1877

Mặt Tiền Nhà Thờ Rouen Lúc Hoàng Hôn (Rouen Cathedral, Façade (sunset)), 1892–1894

Cầu Charing Cross (Charing Cross Bridge), 1899

Kênh Lớn ở Venice (The Grand Canal, Venice), 1908

Liễu Rủ (Weeping Willow), 1918-1919
Monet được coi là “chủ soái” của các họa sỹ Ấn tượng ở Pháp. Tôi có thể nhận ra tranh của Monet khi không nhìn tên tác giả với xác suất đúng tương đối. Monet đã đẩy cách vẽ Ấn tượng theo một lối đi khiến cho chủ đề tranh của ông không hẳn chỉ là những thứ được gọi ra trong tên tác phẩm, đoàn tàu nhả khói, những tòa nhà bên mặt nước, cỏ cây và hoa lá. Sự quan tâm của Monet đến chuyển động của không khí và ánh sáng khiến cho chính những thứ ấy cũng trở thành chủ đề của tranh. Tranh của ông có hai đối tượng nghiên cứu- một tĩnh hơn, một động hơn- có quan hệ tương tác và bình đẳng với nhau. Tranh của Degas thì lại khác một chút. Họa sỹ hay vẽ các vũ nữ, nhưng không phải vì mê con người mà vì thích thú với các chuyện động (nghệ sỹ từng nói như vậy, theo các giai thoại). Chuyển động trong tranh của Degas là thứ chuyện động con người tạo ra trong một không gian cũng của con người tạo ra, thế nên nó không đem lại cảm giác về một sự phân tách thành hai thứ chủ thể đang tương tác với nhau.
Sự nghiên cứu chuyên sâu các ấn tượng thị giác về cảnh vật trong những điều kiện ánh sáng và thời tiết khác nhau được thể hiện rõ ở những tranh vẽ theo chuỗi của Monet (serial imagery) ở giai đoạn về sau. Monet không còn chỉ vẽ giữa thiên nhiên và chỉ dựa vào sự ngẫu hứng. Các bức tranh trong cùng một chuỗi có thể được vẽ ở trong xưởng và được sửa đi sửa lại nhiều lần.  Tiêu biểu có lẽ là chùm tranh nhà thờ Rouen (Rouen Cathedrals). Mặt chính của nhà thờ chiếm toàn bộ diện tích những bức tranh lại là cái nền để họa sỹ nghiên cứu những hiệu ứng thị giác của ánh sáng và thời tiết.  Tính rắn chắc của một kiến trúc tôn giáo đồ sộ đã phải nhường chỗ cho những mối quan tâm của nghệ sỹ. Monet đã vẽ cái nhà thờ này trên 30 lần, và trưng bày 20 bức trong một triển lãm vào năm 1885.
3. Ban đầu tôi cũng chỉ biết là có những bức tranh như thế, của cùng một họa sỹ nào đó, chứ không nhớ tên tác giả. Tôi chỉ thực sự nhớ tên tác giả sau khi xem bộ phim “The Impressionists” của BBC. Bộ phim kể về cuộc đời của Monet, mối quan hệ giữa những họa sỹ gắn với trường phái Ấn tượng ở Pháp, và bối cảnh ra đời các tác phẩm nổi tiếng của nhóm họa sỹ này (có thể xem phim trên You Tube, tại đây). Xem xong phim tôi thấy “hít hà”: Sao một nhóm người tài năng và đam mê lại gặp được nhau như thế? Người ta có thể giải thích sự ra đời và phát triển của trường phái Ấn tượng dựa trên những tiến bộ khoa học và công nghệ của thời kỳ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX (ví như máy ảnh và nhiếp ảnh), nhưng có một nhóm nghệ sỹ như vậy cũng là một thứ cơ duyên.
4. Dù tôi đã xem phim và đọc về cuộc đời của Monet, khi xem tác phẩm của nghệ sỹ, tôi chỉ có cảm giác rõ rệt về một nỗ lực say sưa và quyết liệt để nắm bắt những ấn tượng thị giác khi con người nhìn ngắm những thứ xung quanh. Các tác phẩm hướng ngoại. Và chúng như ngợi ca sự liên lạc giữa thị giác, óc phân tích và bàn tay cảm tính của con người.
Monet cũng có những bức tranh vẽ vợ mà nếu biết chuyện cuộc đời ông thì sẽ thấy cảm động.

Người Phụ Nữ với Cái Dù- Camille và Jean Monet (Woman with Parasol- Camille and Jean Monet), 1875

Camille Monet trên Chiếc Giường Mà Cô Ấy Đã Qua Đời (Camille Monet on Her Deathbed), 1879
Vậy mà tôi không có “cảm giác về một con người” khi xem tranh của Monet. Có thể chỉ vì người ta chưa tổ chức một cuộc triển lãm tại đó giám tuyển xây dựng hình ảnh Monet như một con người thông qua những bức tranh. Tôi không dại gì vì chờ đợi “một con người” mà không có sự thích thú khi xem những bức tranh của Monet. Và tôi cũng chẳng dại gì mà xếp những bức tranh ấy và người nghệ sỹ vào một thứ tiêu chuẩn đánh giá theo thang bậc nào đó.
_______________
* Ấn tượng là một trường phái hội họa do nghệ sỹ tự định nghĩa. Nó bắt đầu ở Pháp giữa những năm 1860 và 1900, và những biến thể của nó nhanh chóng phát triển ở hầu khắp các nước phương Tây. Người ta nói từ “ấn tượng” được lấy ra từ tên một bức tranh của Monet: Ấn Tượng Mặt Trời Mọc (Impression Soleil Levant). Các nhà phê bình ban đầu dùng từ đó với ý chê các tác phẩm chưa hoàn thiện, không theo các chuẩn mực hàn lâm của thời đó. Các họa sỹ tiếp nhận từ “ấn tượng” để chỉ cách vẽ mà họ theo đuổi (như đã mô tả ở trên).
Những họa sỹ tiêu biêt gồm có:

  • Jean Frédéric Bazille (1841-1870)
  • Mary Cassatt (họa sỹ Mỹ, 1844-1926)
  • Paul Cézanne   (1839-1906)- nhiều sách về mỹ thuật xếp ông vào trường phái ấn tượng, nhưng Cézanne  có một cách vẽ tương đối khác và theo giai thoại thì ông còn cảm thấy tức giận khi bị xếp vào nhóm các họa sỹ Ấn tượng của Pháp.
  • Edgar Degas (1834-1917)
  • Max Liebermann (họa sỹ Đức, 1847-1935)
  • Claude Monet (1840-1926)
  • Berthe Morisot (1841-1895)
  • Camille Pissarro (1830-1903)
  • Pierre-Auguste Renoir (1841-1919)
  • Alfred Sisley (1839-1899)

Nguồn: nghiencuuhocthuat.wordpress.com

Tìm hiểu sơ lược về lịch sử ngành Báo in tại Hoa Kỳ

Nhắc về lịch sử ngành báo chí, mọi chuyện bắt đầu với phát minh của Johannes Gutenberg vào thế kỷ 15, đó là kỹ thuật in ấn “movable type” (sử dụng các ký tự rời rạc). Tuy vậy, sáng chế này của Gutenberg ban đầu mới chỉ áp dụng cho Kinh Thánh và các loại sách khác. Và phải đến thế kỷ 17 tại Châu Âu thì tờ báo đầu tiên mới ra đời. Tờ báo thường kỳ đầu tiên được phát hành hai số

Đức Anh

06/07/2021

MUỐN LUYỆN NÃO? HÃY HỌC CHƠI NHẠC CỤ

Học chơi nhạc có thể tác động đáng kinh ngạc đến cấu trúc bộ não, tăng cường trí nhớ, tư duy không gian và kỹ năng ngôn ngữ của bạn. Ngành kinh doanh về rèn luyện trí não đáng giá nhiều triệu đôla đang bị công kích dữ dội. Tháng 10/2014, một nhóm gồm hơn 100 nhà thần kinh học và tâm lý học xuất sắc đã viết một bức thư ngỏ cảnh báo rằng “những trò chơi luyện não thường xuyên được phóng đại

Minh Hùng

13/08/2019

Xem xét lại “Thủy triều dư luận” xung quanh vụ cá chết ở ven biển miền Trung

BookHunter: Sự việc cá chết ở ven biển miền Trung từ Hà Tĩnh vào đến Đà Nẵng đã gây ra sự hoang mang lớn trong dư luận cả nước. Rất nhiều thông tin được đưa ra, rất nhiều hoạt động được cổ vũ, người dân lên tiếng, chính phủ né tránh, truyền thông chạy đua dư luận bằng mọi giá. Tất cả đã tạo nên một cơn “thủy triều dư luận” xung quanh sự việc cá chết này.  Đứng trước luồng dư luận dồn dập

Tô Lông

29/04/2016

NIỀM TIN TÔN GIÁO CÓ GIÚP CHÚNG TA VƯỢT QUA NỖI SỢ CHẾT?

Một nghiên cứu mới đây đã khảo sát tất cả các dữ liệu có sẵn về việc chúng ta sợ hãi vì những gì xảy ra khi cuộn dây số phận hữu hạn của chúng ta bị loại bỏ. (Điển tích “shuffle off this mortal coil” ý muốn nói đến “cuộn dây số phận” trong thần thoại Hy Lạp do Moire giữ). Họ nhận ra rằng những người vô thần là những người ít sợ hãi trước cái chết… và, có lẽ không ngạc nhiên,

Minh Linh

20/09/2017

Một Chín Tám Tư – Kiệt tác đã giết chết George Orwell (phần 1)

Bài gốc: https://www.theguardian.com/books/2009/may/10/1984-george-orwell Robert McCrum Năm 1946, Biên tập viên tờ Observer David Astor đã cho George Orwell mượn một trang trại xa xôi vùng Scotland để ông viết cuốn sách mới của mình, Một Chín Tám Tư. Cuốn sách đã trở thành một trong những tiểu thuyết quan trọng nhất của thế kỷ 20. Trong bài viết này, Robert McCrum kể lại câu chuyện hấp dẫn về cuộc sống đầy đau khổ của Orwell khi ở lại trên đảo, phải cận kề cái chết

Minh Hùng

07/10/2019